Trang chủ > Tản mạn > HƯƠNG CÁ CHỐT XA XĂM

HƯƠNG CÁ CHỐT XA XĂM

Apr 16, ’10 1:54 AM

Bài đã đăng báo Trẻ (Texas, USA)

Bây giờ khác rồi, vác cần câu ra sông ngồi mục xương sống chưa chắc kiếm được một rổ con con. Khi mà tôm, cua, tép, cá kèo, cá lóc, cá rô, lươn, lịch, ếch, trê vàng… đều phải nuôi mới có và lũ lượt “lên đường xuất khẩu”, người dân địa phương tiết kiệm không dám ăn thứ sản phẩm mình làm ra thì cá chốt cũng trở thành “hàng hiếm”. Ở chợ, cá chốt to bằng ngón tay cái đã cắt bỏ đầu bán giá từ 80 ngàn/kg trở lên, mà không phải ngày nào cũng có. Hôm nào chợ có cá chốt tươi ngon, người ta tranh nhau mua nườm nượp, bởi lẽ tuy giá có mắc hơn cá khác, nhưng ăn ngon và kho một ký cá cả nhà có thể ăn dè đến 2-3 ngày.


Miệt Nam kỳ lục tỉnh, không ai lạ gì câu: “Bạc Liêu là xứ quê mùa/ Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu”. Cá chốt là một loại cá sống ở nước lợ các kênh, sông Bạc Liêu. Bề ngoài cá chốt tương tự con cá lăng, cá ngác, cá tra, có hai ngạnh nhọn hoắt, bén ngót sau hai cái mang và một ngạnh cũng nhọn hoắt, bén ngót như vậy trên đầu, nhưng cá chốt nhỏ con hơn. Ai xui xẻo bị mấy cái ngạnh này đâm trúng thì nó nhức thấu trời, con nít bị đâm khóc cả ngày chưa hết khóc. Hình dạng cá chốt không to, con thuộc hàng “đại đại ca” cũng chỉ bằng ngón chân cái người lớn.

Nói Bạc Liêu là xứ quê mùa, hổng biết có đúng không, nhưng từ xưa Bạc Liêu đã có Công tử Bạc Liêu Ba Huy nức tiếng ăn chơi, sang trọng, hào phóng số dzách. Còn nói “Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu” là quá đúng. Hồi thời năm nẳm, lúc tôi còn nhỏ, nghe cha tôi nói cá chốt dưới kênh, sông Bạc Liêu nhiều vô số kể, lấy cục đất chọi xuống sông cái đùng thì cá nổi lên bầy bầy, cá ngoi đầu lên trắng cả một vùng mặt sông lớn mấy sải tay, đầu con này khít đầu con kia trên mặt nước, người ta kêu là “nổi đầu đặc khừ”. Cá nhiều vì người ta chê cá chốt là loài ăn tạp, ăn dơ, gì cũng ăn nên thịt nó dơ không thèm bắt làm gì. Kênh xáng Bạc Liêu chảy bao quanh khu phố chợ trung tâm, người Hoa (Triều Châu) lại chuyên sống bằng nghề buôn bán nên hai dãy phố chợ toàn là nhà người Hoa, dân xứ tôi còn gọi là “dãy phố Chệt”.

web_psvn_3_669b.jpg

Cá chốt

Vào mùa sa mưa, tức tháng bảy, tháng tám âm lịch, cá nhiều đến nỗi người ta truyền miệng nhau rằng mùa này ngồi trên xuồng thò tay xuống nước nắm râu cá chốt chùm chùm kéo thảy lên xuồng. Mỗi lần nắm một cái là dính 3-4 con. Sau này tôi mới biết người ta nói như vậy là hàm ý chỉ cái sự “nhiều ơi là nhiều”, giống như kiểu nói “Muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh như bánh canh” vậy mà. Chớ thực tế bắt cá chốt thì phải dùng hai ngón tay chụp bóp mạnh vào phía sau mang, sát hai cái ngạnh của nó, thì con cá nó giẫy giụa quẫy đầu lại mình mới không bị ngạnh nó đâm vào tay. Chớ cá chốt sống mà cầm râu cả chùm, bọn nó quặt đầu qua lại vài cái coi như bàn tay nát bấy.

web_psvn_3_669c.jpg

Phơi cá chốt làm khô

Chín mười tuổi, ngày nào tôi cũng xách cái giỏ tre theo anh tôi xuống kênh, rạch chài cá. Hai bên rạch có đoạn thì toàn là dừa nước, có đoạn băng qua một cánh đồng lúa, cũng có đoạn đi ngang xóm nhà. Anh tôi sắp cây chài thủ sẳn trên cánh tay, đi dọc bờ rạch, mắt nhìn lom lom xuống nước. Tôi đeo giỏ trên lưng theo sau, vừa đi vừa ngó nghiêng cảnh vật hai bên như “thằng Mán đi chợ huyện”. Anh tôi có tài nhìn bong bóng sủi tăm, nhìn cái quặn xao động mặt nước là biết phía dưới có cá gì hay tôm, cua. Anh tôi chỉ quăng chài để bắt tôm, tép, cua, cá đối con nào con nấy bự bự, không bao giờ bắt cá chốt. Có nhiều hôm, anh tôi say cá, chạy theo luồng chài cá đầy giỏ tre mà vẫn không chịu ngưng, phải cởi áo đang mặc ra đổ cá vô túm lại. Cá đối, tôm tép chài nhiều để cho ở nhà ăn, dư còn bán được cho hàng xóm, cá chốt thì ai thèm mua. Một bữa nọ, tôi tài lanh, thấy anh ngồi nghỉ trên bờ để cây chài kế bên, tôi bèn lấy bung ra quăng tùm xuống rạch rồi kéo lên. Cha chả là nặng, quỷ thần ơi, đầy chài trắng xóa cá chốt. Anh tôi nổi nóng la rùm lên: “Mày hay quá, ai biểu mày quăng xuống vậy. Tao cho mày gỡ tới tối luôn, gỡ không rồi thì cứ ở đó mà gỡ, hễ tối là tao đi về một mình”. Quả thiệt, ba cái ngạnh cá chốt vừa nhọn vừa bén, cá nó quẫy dính cứng ngắt, rối beng trong mấy cái lỗ lưới chài. Tôi vừa thò tay gỡ thì bọn cá chốt giẫy lia lịa, ngạnh nó vừa cắt vào sợi lưới, vừa đâm vào tay đau điếng. Tôi nhìn đống cá chốt bự xự kêu kèng kẹc trong cái chài như chúng đang hăm dọa tôi, nghĩ đến cảnh trời tối mà phải ngồi gỡ cá ở cái chỗ vắng teo tối thui hai bên bờ đầy dừa nước này, sợ quá tôi khóc um lên. Anh tôi nạt: “Để đó tao gỡ, mày gỡ một hồi rách chài hết, cá nó đâm mày về nhà mẹ chửi tao”. Anh tôi phải bẻ gãy hết từng cái gai mới gỡ được bầy cá chốt đó ra khỏi chài mà không rách hết lưới. Tối mịt mới về đến nhà.


Anh tôi giận, không cho tôi theo đi chài nữa, tôi bèn chuyển sang đi… câu. Trước mặt nhà tôi cũng là sông nên từ nhỏ tôi đã biết bơi trước khi biết đọc chữ quốc ngữ. Hồi xưa học trò học có một buổi, ngoài giờ học ở trường thì suốt ngày tôi ở ngoài sông. Tôi ghiền lội sông, vọc nước như người ta ghiền á phiện. Ngày nào tôi cũng vác cái cần câu bằng cây trúc, đầu ngọn trúc cột sợi nhợ ny- lông có gắn lưỡi câu. Tay cầm theo cái rổ tre và lon sữa bò đựng mồi. Mồi câu là trùn cơm, con nào con nấy trắng phếu, to đùng, tôi đào ngoài đám bạc hà sau nhà. Cám rang cho thơm rồi cắt khúc trùn trộn với cám, vậy là có lon mồi dụ khị bọn cá. Ra bờ sông, chỗ nào vắng vắng, có bóng cây mát mát thì ngồi xuống thả cần câu. Tôi câu dính toàn cá chốt, chắc chỉ có bọn cá chốt ăn tạp nó mới không chê mồi của tôi, hễ vừa thả xuống thì nó táp liền, giựt cần câu lia lịa chút xíu là đầy rổ, còn bọn cá khác chúng nó chê “thức ăn” tôi “sản xuất” không ngon chăng(?!). Câu xong thì xuống nước ngụp lặn tắm táp đến chạng vạng tối mới leo lên bờ đi về.

Gia đình tôi lúc đó cũng thuộc hàng khá giả “có máu mặt” trong xóm, nên “thành quả lao động” của tôi thường bị cha tôi đem đổ bỏ vì “Ai mà ăn cái thứ này, bày đặt đi câu có ngày theo Hà Bá”. Mẹ tôi thì nói: “Kệ nó, ở nhà suốt ngày làm cái gì, nó không chết trôi đâu mà lo”.

Năm lớp 12, lớp tôi nổi tiếng cả trường bởi học trò lớp này tuy có tiếng thông minh học giỏi nhưng cũng làm biếng và quậy hổng thua ai. Mà cũng tại ông thầy Toán dễ tính, chưa bao giờ cho đứa học trò nào dưới năm điểm nên bọn tôi ỷ y không thèm học nhiều. Thầy mắng chửi cứ việc mắng chửi, ở trên thầy nói bất cứ câu gì, ở dưới tụi nó cũng cười rần rần, riết rồi thầy đâm chán không thèm chửi nữa. Một bữa nọ đang giảng bài, thầy hỏi câu gì bọn nó cũng hổng biết, bực mình quá thầy nói: “Tui thông báo cho mấy người biết, mấy người đi ngang sông Cầu Quây, té xuống sông cá chốt nó còn chê mấy người nữa”. Ở xứ tôi có câu cửa miệng: “Dở như cứt”, ý nói dở tệ không còn cái gì dở tệ hơn nữa. Cá chốt thì hay ăn cứt từ mấy cái cầu tỏm dọc bờ kênh, sông. Ở trên “thả bom” xuống một phát, ở dưới cá chốt tranh nhau táp, quẫy đùng đùng, văng nước tùm lum giống y như mấy cái hầm cầu cá tra, có điều cá chốt nhỏ con nên “sức công phá” không mạnh mẽ như bọn cá tra. Bọn học trò ngồi ở dưới lại cười rần rần, chẳng hề tự ái hay buồn chút nào khi nghe ông thầy ám chỉ bọn nó học “dở hơn cứt” (“hơn” chớ không phải “như”), rớt xuống sông cá chốt cũng chê hổng thèm táp, vô dụng triệt để luôn.


Sở dĩ hồi đó người dân quê tôi “khinh thường” cá chốt vì tôm, tép, cua, rô đồng, lóc đồng, hải sản biển nhiều vô kể. Người nghèo bắt cá chốt bằng đăng tre, rải chút cám rang cho thơm, cá vô bầy bầy, kéo lên cả xóm xúm nhau cắt đầu mổ bụng, lựa con nào bự bằng ngón chân cái người lớn và có trứng kho sả ớt, con nhỏ để làm mắm ăn dần.  Có khi, người ta bằm vụn hết để nấu chung với tấm, cám, chuối cây, xà bần rồi cho heo, gà, vịt ăn.

web_psvn_3_669e.jpg

Cá chốt kho tiêu

Bây giờ khác rồi, vác cần câu ra sông ngồi mục xương sống chưa chắc kiếm được một rổ con con. Khi mà tôm, cua, tép, cá kèo, cá lóc, cá rô, lươn, lịch, ếch, trê vàng… đều phải nuôi mới có và lũ lượt “lên đường xuất khẩu”, người dân địa phương tiết kiệm không dám ăn thứ sản phẩm mình làm ra thì cá chốt cũng trở thành “hàng hiếm”. Ở chợ, cá chốt to bằng ngón tay cái đã cắt bỏ đầu bán giá từ 80 ngàn/kg trở lên, mà không phải ngày nào cũng có. Hôm nào chợ có cá chốt tươi ngon, người ta tranh nhau mua nườm nượp, bởi lẽ tuy giá có mắc hơn cá khác, nhưng ăn ngon và kho một ký cá cả nhà có thể ăn dè đến 2-3 ngày.

Cá chốt có thể làm mắm, nấu canh chua, nhưng ngon nhất phải là món cá chốt kho sả ớt. Mua loại cắt đầu sẵn ở chợ, con cá còn tươi thì da nó bóng lưỡng, lưng màu đen, bụng màu vàng đồng nhạt nhạt, thịt nó trong trong và màu vàng hươm, còn màu máu đỏ tươi, cặp trứng vàng óng bóng lưỡng. Đừng mua loại nhìn thấy da cá trắng, thịt cá màu trắng là cá bị ươn, ăn không ngon. Cá đem về móc lấy cặp trứng bỏ vào thau nước muối loãng rửa cho sạch máu và nhớt. Nước muối có tác dụng làm sạch và cứng trứng cá, khi kho trứng sẽ săn lại từng cục cứng chớ không bể ra tùm lum. Rửa xong thì ngâm lại bằng nước muối sạch khác khoảng 15 phút mới vớt ra để ráo. Dùng kéo cắt bỏ đuôi cá. Bỏ cá vào cái rổ tre, để rổ vào thau nước muối, dùng tay chà xát cho cá chạy vòng vòng trong rổ tre để làm sạch da cá. Lấy ngón tay chà sạch cục máu đọng trong bụng cá để cá hết mùi tanh. Thay nước rửa vài lần, khi nào thấy da cá sạch sẽ chỉ còn màu trắng thì rửa lại một lần nữa bằng nước muối pha loãng rồi vớt lên để ráo. Chuẩn bị một chén sả ớt bằm nhuyễn cho một ký cá. Cho mỡ (hoặc dầu ăn) vào chảo, mỡ sôi lên cho vào mấy tép tỏi đập dập, thấy tỏi bay mùi thơm thì cho một muỗng canh sả ớt vào xào cho đến khi thấy tỏi ớt ngã sang màu hơi vàng vàng hãy nhắc chảo xuống, trút sả ớt xào ra cái tô. Lau sạch chảo rồi bắt trở lên bếp, cho chút mỡ vào, chờ mỡ sôi lên đổ cá vô chảo. Dùng cái sạn (tiểu liểu) trở cá qua lại vài cái cho cá tróc da rồi nhắc chảo xuống khi cá vẫn còn sống, đừng xào lâu quá cá chính bể vụn hết đẹp. Trút cá ra cái tô khác rồi cho phần sả ớt bằm nhuyễn còn sống vào trộn đều cho sả ớt bám đều quanh con cá và thấm vào cá. Thắng nước màu bằng cách dùng cái nồi đất (sau này sẽ kho cá) bắt lên bếp, cho vào nồi một muỗng canh mỡ, đợi mỡ sôi lên thêm vào một muỗng cà phê đường cát, dùng đũa quấy đều đến khi đường sôi bọt cua và chuyển sang màu vàng nâu nâu thì nhắc nồi xuống và đổ cá vào nồi trộn đều cho da cá thấm nước màu. Cho nước mắm ngon vào xăm xắp mặt cá, thêm chút bột ngọt, chút đường vào (tùy khẩu vị), để chừng 30 phút cho nước mắm, gia vị thấm vào. Xong bắt nồi lên bếp, khi nước mắm sôi lên sùng sục thì cho trứng cá vào kho tiếp khoảng 10 phút rồi hạ lửa riu riu cho nước mắm rút hết vào cá đến khi còn chỉ còn sền sệt thì nhắc nồi cá kho xuống rồi rắc sả ớt xào lên trên mặt nồi cá. Mùi cá, mùi nước mắm ngon, mùi mỡ tỏi phi, mùi sả ớt quyện vào nhau, bốc lên nồng nồng, cay cay, thơm phức.

Ngồi trong nhà bưng chén cơm trắng nóng chan thêm chút nước cơm, ăn với cá chốt kho sả ớt trong ơ đất, bên ngoài trời lất phất mưa bay lành lạnh thì không gì ngon bằng. Ăn hết cá dùng đũa quẹt sả ớt bám quanh ơ đất ăn cũng rất ngon. Nấu thêm tô canh chua cơm mẻ với tép và bông so đũa thì đáng gọi là “Thiên hạ đệ nhất cá kho”. Nếu không có canh chua thì ăn với dưa chuột, dưa cải muối chua cũng bắt cơm không kém. Người khỏe mạnh có thể làm một lèo 5-6 chén cơm như chơi.

Mười năm nữa, không biết xứ Bạc Liêu có còn con cá chốt? Hay cá chốt chỉ còn là những kỷ niệm thưở ấu thơ, những hương vị quê nhà xa xăm trong ký ức của những người xa xứ?

Tạ Phong Tần


Advertisements
Chuyên mục:Tản mạn
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: