Trang chủ > Khoa học pháp lý > LUẬN CỨ BIỆN HỘ CHO BỊ CÁO LS NGUYỄN VĂN ĐÀI CỦA LS ĐẶNG DŨNG

LUẬN CỨ BIỆN HỘ CHO BỊ CÁO LS NGUYỄN VĂN ĐÀI CỦA LS ĐẶNG DŨNG

January 06, 2008

Luật sư Đặng DũngDù đứng trên quan điểm của luật hình sự Việt Nam, những lý luận buộc tội Ls. Đài cũng không đứng vững. Để cáo buộc NVĐ tội chống Nhà nước CHXHCNVN, Toà đã viện dẫn lý do LS Đài chống Hiến pháp, có liên lạc với những những người Việt Nam lưu vong, có ý thức chống Nhà nước quyết liệt và là thành viên của những tổ chức chống Nhà nước CHXHCNVN. Nhưng tất cả các cáo buộc này đều sai vì đã dựa trên một sự ngộ nhận về tính duy nhất của sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và dựa vào những suy luận, võ đoán, gán ghép vô căn cứ và phi thực tế về một số cá nhân và tổ chức ở trong và ngoài nước. Vì không chứng minh được rằng NVĐ có ý thức chống Nhà nước-là yếu tố chủ quan của tội phạm-nên hành vi phạm tội theo Đ.88 BLHS cũng đã không được cấu thành“.


Được phép của Hội Đồng xét xử, Tôi-LS. Đặng Trọng Dũng (tức Đặng Dũng) của VPLS Đặng Dũng & Ninh Hòa thuộc ĐLS/TP.HCM-là LS. bào chữa cho bị cáo LS. NGUYỄN VĂN ĐÀI bị truy tố về tội danh “Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN “ theo điều 88 Bộ Luật Hình sự .

LS.Nguyễn Văn Đài đã bị Tòa Sơ thẩm TAND/TP.Hà Nội xử phạt 05 năm tù và quản chế 04 năm sau khi mãn hạn tù. Cùng với LS. Đài, có LS. Lê Thị Công Nhân cũng bị truy tố về tội danh này. Tôi cũng sẽ có Luận cứ bảo vệ bị cáo LS. Lê Thị Công Nhân ngay sau đây cùng với các đồng nghiệp của tôi.

Ông Nguyễn văn Đài đã kháng cáo bản án Sơ thẩm vì ông Đài khẳng định ông KHÔNG TUYÊN TRUYỀN CHỐNG NHÀ NƯỚC CHXHCNVN. Các hành vicủa ông chỉ thực hiện quyền công dân, quyền chính trị. Các hành vi đó là một sự bày tỏ, phản kháng, nói CHÍNH XÁC là bất đồng chính kiến.

Chúng tôi là các LS đã được gia đình bị cáo mời biện hộ từ cấp Sơ thẩm nhưng do bận rộn và có những lý do riêng nên chưa nhận lời. Lần này tại phiên tòa cấp Phúc thẩm, gia đình có mời và đích thân bị cáo LS Nguyễn văn Đài đã đồng ý nên chúng tôi đã đồng ý biện hộ. Điều chúng tôi nhận lời là do hoàn cảnh chính trị và kinh tế của nước ta có sự thay đổi rõ nét, sự việc đã được nhìn nhận trong bầu không khí chính trị bình tĩnh hơn để LS chúng tôi không bị những áp lực nặng nề, ảnh hưởng đến việc bào chữa cho bị cáo.

Để có thể làm tốt được chức năng và nhiệm vụ của Luật sư, chúng tôi cũng mong muốn HĐXX căn cứ theo Luật Tố tụng Hình sự, tạo điều kiện cho LS và kể cả bị cáo nguyên là Ls. Nguyễn văn Đài và Ls. Lê thị Công Nhân được trình bày quan điểm bào chữa của chính bị cáo và tranh luận với Đại diện VKSNDTC theo tinh thần cải cách tư pháp vì chỉ có qua tranh luận thẳng thắn như vậy mới mong HĐXX có một quyết định có lý, có tình soi rọi được đến tận cùng các vấn đề chưa được xem xét một cách đầy đủ và chính xác.


Tôi xin được phép trình bày Luận cứ bào chữa của tôi cho bị cáo Ls. Nguyễn Văn Đài:

Vụ án đã được sự quan tâm rất lớn của dư luận quốc tế và trong nước, hơn 600 tờ báo đã đề cập đến vụ án này. Nhiều lãnh đạo thế giới, nhiều chính trị gia, trí thức và các tổ chức quốc tế đã lên tiếng phản đối, bình luận về sự việc điều tra, truy tố, xét xử hai bị cáo nguyên là luật sư. Tại sao vụ án được sự quan tâm rộng lớn như vậy? Câu trả lời không khó. Đó là sự quan tâm của họ về nền dân chủ của chúng ta, hiến pháp và hệ thống luật pháp của chúng ta. Là thành viên thứ 150 của tổ chức WTO và được hơn 170 quốc gia bỏ phiếu để Việt Nam trở thành ủy viên trong Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009. Họ nghĩ rằng đất nước chúng ta và đặc biệt người dân chúng ta xứng đáng được hưởng một nền dân chủ đích thực hơn nữa, việc phê bình chỉ ra những yếu kém trong tổ chức guồng máy Nhà nước là một điều bình thường ở các quốc gia Tây phương và kể cả các quốc gia đang phát triển.


Bản thân các Luật sư tại TP.HCM có mặt trong pháp đình ngày hôm nay đã từng là đồng nghiệp với hai bị cáo nguyên là Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân.

Luật sư Bùi Quang Nghiêm là người cùng với Luật sư Nguyễn Văn Đài trong dự án “Vì công lý” và tôi Luật sư Đặng Dũng đã từng phản biện với Luật sư Đài trên diễn đàn của BBC về việc “Thành lập Đảng tại Việt Nam”. Nói một cách đầy đủ là các Luật sư chúng tôi ngoài việc hành nghề về dịch vụ pháp lý còn quan tâm, nghiên cứu về các vấn đề dân chủ, hiến pháp, nhân quyền tại đất nước chúng ta. Do hiện nay mạng Internet rất phổ cập tại VN nên nó là một phương tiện hữu hiệu để các Luật sư có thể nhanh chóng trao đổi các ý kiên pháp lý về các vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội.

Là LS chúng tôi ý thức LS được công ước của Liên Hiệp Quốc quan tâm và dành cho những trọng trách trong việc bảo vệ nhân quyền cho người dân như trong thư của LS Chủ tịch Hiệp Hội LS thế giới đã quan tâm và gửi thư cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng việc hai LS hội viên của tổ chức này là Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị bắt và bị truy tố xét xử mà họ không được hưởng những điều được ghi trong tuyên ngôn về Quyền của người bào chữa đã được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 09.12.1998, tại điều 1 của bản Tuyên ngôn này đã ghi:

Mọi người đều có quyền, tự mình hoặc cùng với người khác nhằm thúc đẩy và đấu tranh cho việc bảo vệ và thực hiện quyền con người và những quyền tự do căn bản ở phạm vi quốc gia và quốc tế“.

Bên cạnh đó, tại điều 23 của “Những nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư” được Đại hội đồng Liên hiệp quốc ủng hộ năm 1990, điều này qui định:

Luật sư cũng như mọi công dân khác có đầy đủ quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng, lập hội và hội họp. Đặc biệt, các luật sư còn có quyền tham gia vào các cuộc tranh luận công khai về các chủ đề luật pháp, hành chính tư pháp, khuyếch trương và bảo vệ các quyền con người, gia nhập hoặc lập các tổ chức ở tầm địa phương, quốc gia, quốc tế và tham gia các cuộc họp của các tổ chức này, mà không sợ bị khó khăn trong công việc luật sư vì các hoạt động đúng pháp luật của họ, hay tư cách thành viên của họ trong các tổ chức hợp pháp.”


Có thể nói đầy đủ rằng chúng tôi hiểu và chia sẻ những suy nghĩ của hai Luật sư bị cáo ngày hôm nay. Điều này sẽ rất thuận tiện để chúng tôi trình bày trước HĐXX về nội dung vụ án của hai Luật sư bị truy tố: ‘Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN Việt Nam”.


– Như trong kháng cáo của bị cáo Ls. Nguyễn Văn Đài về phần hình thức, tố tụng bản án sơ thẩm đã có quá nhiều sai sót mà hai luật sư lão thành là người đã bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm đã nắm rất rõ và trình bày tại phiên tòa ngày hôm nay.

Trong hướng cải cách tư pháp thì gần đây chúng ta đã chứng kiến rất nhiều bản án đã bị hủy do thiếu sự tham gia của luật sư tại các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Đối với vụ án này trước hàng loạt các sai phạm về mặt tố tụng hình sự thì chúng tôi kiến nghị HĐXX xem xét để hủy bản án cấp sơ thẩm đã tuyên. Chúng tôi mong được tranh luận với đại diện VKS về những điều sai sót tố tụng mà các luật sư chúng tôi nêu ra trong phiên tòa Phúc thẩm.

– Về mặt nội dung của việc truy tố về tội tuyên truyền: Việc điều tra truy tố và xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm cũng đã làm quá nhanh gọn không tôn trọng tinh thần và nội dung của cải cách tư pháp, thiếu việc tranh luận, phân tích, dẫn chứng về các sai phạm của các bị cáo đặc biệt là về các hành vi của bị cáo Luật sư Đài về: kêu gọi thành lập Đảng tại VN, trả lời phỏng vấn đối với các báo đài như BBC, RFA…

Phiên tòa sơ thẩm đã không cho các luật sư tranh luận chi tiết với đại diện VKS cho thấy HĐXX cấp sơ thẩm không tôn trọng cơ quan tiến hành tố tụng là VKS và người tham gia là các luật sư chúng tôi.

Do vậy, tại phiên tòa cấp Phúc thẩm, chúng tôi mong được HĐXX tạo mọi điều kiện để chúng tôi và phía công tố tranh luận sòng phẳng về các cáo buộc đối với hai bị cáo.

Cụm từ “tranh luận sòng phẳng” là cụm từ được nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt bình luận về vụ án. Tôi và Luật sư Bùi Quang Nghiêm vừa hoàn thành nhiệm vụ trong vụ án xử phúc thẩm bị cáo-bác sỹ Lê Nguyên Sang tại TP.HCM vào tháng 08/2007. HĐXX cấp Phúc thẩm đã cho phép chúng tôi phân tách, tranh luận về nội dung các tờ truyền đơn mà không lo ngại về việc “phạm húy”.

Nhận thức về cách thức giải quyết các vấn đề pháp lý tại VN trong hơn 30 năm qua sau khi đất nước thống nhất sau 1975, trong tư tưởng của các Nhà làm luật và các người thi hành pháp luật và người dân VN đã có cách hiểu khác nhau và khoảng cách này rất là lớn. Do đó trong thực tế, cuộc sống đã xảy ra các mâu thuẫn, các đối kháng trong xã hội dẫn đến các bất ổn đáng lẽ ra hoàn toàn có thể tránh được.

Lấy thí dụ trực tiếp và cụ thể, đối chiếu với vụ án này đó là điều 69 trong Hiến pháp ghi nhận như sau : “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền được hội họp, lập Hội, biểu tình theo qui định của pháp luật”.

Về phía Nhà nước trong thực tế hiểu vấn đề rằng khi chưa có các đạo luật thì phía Hành pháp, Chính phủ, Nhà nước làm ra các văn bản dưới luật tức là các Nghị định để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội trong cuộc sống. Đó là tư duy về phía Nhà nước tức là NGƯỜI DÂN PHẢI LÀM THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT!!

Về phía người dân , các nhà trí thức và đặc biệt là giới Luật sư-họ hiểu việc thực thi luật pháp có phần tiến bộ hơn, gần với cách hiểu, nhận thức về Luật pháp GIỐNG NHƯ CỦA NGƯỜI DÂN CÁC QUỐC GIA KHÁC, đó là khi chưa có các đạo luật được làm ra thì cần thiết phải tôn trọng đạo luật số 1, đạo luật căn bản đó là Hiến pháp, sau đó mới là các qui định pháp luật tức là các văn bản dưới luật.

Do vậy, các quyền của người công dân cụ thể như trong điều 69 của Hiến pháp năm 1992 thì công dân được quyền và có quyền làm các điều mà các Nhà Lập pháp soạn thảo ra Hiến pháp ghi nhận đó là: Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, biểu tình khi chưa có qui định của Luật về các quyền này.

Hiện nay tại các cơ quan Nhà nước thường treo khẩu hiệu “Sống và làm việc theo pháp luật hoặc “Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật”.

Người dân mong muốn cơ quan Nhà nước SỐNG VÀ LÀM VIỆC THEO HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT mới thực sự là có tinh thần trọng pháp.

Nhà nước cho rằng việc ban hành các văn bản dưới Luật-giống như các sắc lệnh ban ra trong thời chiến tranh sẽ buộc người dân chấp hành. Phía các cơ quan Nhà nước đã không tuân thủ nội dung và tinh thần của Hiến pháp đầy đủ so với người dân. Đây là một nghịch lý của nền tư pháp Việt Nam. Cuộc xung đột về nhận thức này đang diễn ra gay gắt và phần thua là về phía đa số người dân vì quyền lực ở trong tay bộ máy Nhà nước. Với một hành xử như vậy, xung đột pháp lý ngày càng gay gắt và dẫn đến bùng nổ là điều không khó hiểu.


Tại VN cũng không có Tòa Án Hiến pháp, nhưng trong Luật về ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có dự liệu một số việc mà Quốc Hội hay UBTVQH có thể làm một số việc mà Tòa Án Hiến pháp sẽ làm đó là giải thích Luật và giám sát xem xét việc một Bộ Luật, một số chương điều khoản Luật cụ thể nào đó vi hiến tức là mâu thuẫn với Luật Hiến pháp.

Tại các phiên Tòa ở Pháp đình trang nghiêm này, tôi đã nhiều lần nói về việc ngôn ngữ Việt Nam là một ngôn ngữ đa nghĩa, có thể hiểu theo nhiều cách. Không phải chỉ có ngôn ngữ mà ngay hành vi, sự việc hay sự kiện nào đó, mỗi chúng ta cũng nhìn nhận sự việc theo góc độ quan điểm rất đa dạng. Đối với các hành vi của bị cáo LS. Nguyễn Văn Đài cũng thế, không thể nào qui kết các hành vi của ông ta một cách đơn giản là tuyên truyền chống Nhà nuớc CHXHCNVN!

Hành vi của hai Luật sư theo Cáo trạng được nhìn nhận ở một quan điểm rõ ràng đó là về chính kiến, quan điểm chính trị về hiện tình của đất nước. Trong bài báo gửi cho đài BBC được đăng vào ngày 14.05.2006-LS Nguyễn văn Đài nói về: “Quyền tự do thành lập đảng ở Việt Nam” có đoạn viết:… Tôi là một luật sư hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền và tự do tôn giáo trong nhiều năm. Dưới đây, tôi đưa ra những nghiên cứu và quan điểm của cá nhân tôi về quyền tự do thành lập đảng ở Việt Nam trong lịch sử và theo Hiến pháp, pháp luật hiện hành. Tôi mong muốn có sự đóng góp ý kiến cũng như tranh luận của các luật sư, các nhà nghiên cứu pháp luật trong và ngoài nước nhằm cổ vũ cho sự khôi phục lại hoạt động cũng như sự thành lập mới của các đảng phái chính trị ở Việt Nam…”

Với một lời lẽ khiêm tốn như vậy, bài viết mang tính khoa học, cầu thị của một luật sư cho nên không thể kết tội Luật sư Nguyễn Văn Đài là tuyên truyền chống nhà nước XHCN. Đây chỉ là một bài viết nghiên cứu Hiến pháp Việt Nam có viện dẫn về mặt lịch sử, pháp luật hiện hành. Bài viết đã được sự phản hồi của rất nhiều bạn đọc trong và ngoài nước. Người đồng ý và người không đồng ý. Bản thân tôi cũng đã có bài “phản biện” về bài viết của Luật sư Đài đăng trên đài BBC ngày 11.05.2006. Trong đó tôi muốn được phản biện khoa học với Luật sư Đài về việc thành lập Đảng tại VN. Cả hai bài viết của chúng tôi đều mang tính khoa học và được nhiều độc giả, nhiều luật gia, nhà nghiên cứu ủng hộ việc tranh luận về các đề tài rất cần cho tình hình phát triển chính trị, dân chủ ở nước ta.

Đối với cáo buộc hành vi của Luật sư Đài có các bài viết, trả lời phỏng vấn đài BBC… thì như chúng tôi đã đưa ra một thí dụ về bài báo “ Về việc thành lập Đảng tại VN” thì báo đài nước ngoài như BBC, RFI, VOA… không còn xa lạ gì với các nhà lãnh đạo Việt Nam, các trí thức và giới luật sư chúng tôi. Các nhà lãnh đạo VN khi tại chức hay về hưu từ nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt cho đến nhà sử học kiêm đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc, Trần Quốc Vượng, các Luật sư Trần Lâm, Bùi Quang Nghiêm, Lê Công Định và tôi đã được các báo đài này yêu cầu trả lời về những vấn đề về hiện tình đất nước, pháp luật, chính trị xã hội. Nhiều bài báo, phỏng vấn nói trên sau đó đã được một số báo đài VN trích đăng. Khi VN đã có vị thế chính trị, vào WTO thì các mặt tích cực của các báo đài trên đối với đất nước VN điều là không thể phủ nhận được.

Như vậy, hành vi nghiên cứu và có những bài viết về chuyên đề Hiến pháp, pháp lý, tôn giáo, hoàn toàn là những nội dung mà bất kỳ Luật sư nào cũng đều được phép làm chiếu theo các công ước Quốc tế mà VN đã ký kết, phê chuẩn và thực hiện.

Căn cứ theo “Luật Ký Kết, Gia Nhập và Thực hiện điều ước quốc tế” do Quốc hội VN ban hành vào ngày 14.06.2005 thì tại điều 06, luật này cũng quy định việc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế: “trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế”.

Như vậy căn cứ về các nguyên tắc cơ bản về vai trò của Luật sư được LHQ thông qua và VN cũng như nhiều nước khác phê chuẩn tuân thủ thì hành vi của hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân “giống như những công dân khác được quyền tự do diễn đạt, tín ngưỡng, lập hội và hội họp. Đặc biệt, họ có quyền tham dự thảo luận các vấn đề công cộng liên quan đến luật pháp, việc thực thi công lý, xúc tiến và bảo vệ nhân quyền và tham gia hoặc thành lập các tổ chức ở qui mô địa phương, quốc gia hoặc quốc tế và tham dự các cuộc họp mà không chịu giới hạn nghề nghiệp bởi do các hành động hợp pháp hoặc việc làm thành viên trong các tổ chức hợp pháp. Trong việc thực thi các quyền này, luật sư phải luôn kiểm soát mình theo luật và các tiêu chuẩn được thừa nhận và đạo đức hành nghề.” Hai LS này đã hành động có căn cứ theo Điều ước Quốc tế mà VN đã cam kết thực hiện .

Với việc khởi tố rồi truy tố, xét xử các hành vi của hai LS nói trên cho thấy có sự xung đột pháp lý: Nếu theo điều 88, – tôi xin nhấn mạnh từ NẾU, có sự vi phạm và cũng hành vi đó là điều họ được làm với tư cách là Luật sư-chiếu theo điều ước quốc tế thì hai LS sẽ được miễn trừ trách nhiệm hình sự. Nếu VN thực sự tôn trọng điều 6 của Luật nói trên thì hai LS này không thể bị kết tội theo điều 88 được. Đây là điểm pháp lý quan trọng mà trong phần điều tra, truy tố rồi xét xử ở cấp sơ thẩm vừa qua hoàn toàn không đề cập đến.

Hiện nay Việt Nam đã vào WTO, là thành viên của HĐBALHQ, càng cần phải chứng tỏ sự tôn trọng các điều ước quốc tế mà VN ký kết. Chúng tôi đề nghị việc truy tố và xét xử hai LS cần phải căn cứ vào bộ Luật ký kết gia nhập và thực hiện điều ước Quốc tế 2005 chứ không phải chỉ căn cứ vào Bộ Luật Hình sự được.

Công dân VN đặc biệt là LS, hai bị cáo nguyên là LS này chính là đối tượng của tuyên ngôn về Quyền của người bào chữa. Hành vi của hai LS nói trên đối với việc tham gia, tranh luận, viết bài nghiên cứu, trả lời phỏng vấn báo chí ở trong nước và ngoài nước hay trên Internet là quyền và trách nhiệm của Luật sư được phép làm. Các hành vi của họ là điều cần thiết cho việc hành nghề của họ nhằm phục vụ cho trọng trách cao cả và thiêng liêng của nghề Luật sư, nhằm bảo vệ các quyền thiêng liêng của con người là các vấn đề về nhân quyền.

Các vấn đề về quyền căn bản của con người đã được long trọng nêu lên trong các Công ước về nhân quyền mà đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã đề xuất, có sự tham gia của đại diện các nước trên thế giới hội họp, bàn luận và chấp thuận thông qua. Giống như Quốc hội trong một nước, các quốc gia thành viên của LHQ đã cử các Đại diện của mình tham gia vào Quốc Hội của các quốc gia trên toàn thế giới là Liên Hiệp Quốc và họ đã bàn đến những vấn đề chính trị toàn cầu trong đó Nhân Quyền luôn là một trong các chủ đề được ĐHĐLHQ thường xuyên hội họp và nêu lên. Các Quốc gia là thành viên của tổ chức Liên Hiệp Quốc đều có nghĩa vụ tôn trọng các công ước này.

Họ có quyền từ chối hoặc cam kết tham gia vào các công ước này hoặc tham gia hạn chế với việc tham gia nhưng bảo lưu một số điều tức là cam kết tôn trọng những điều trong các công ước đó nhưng không chấp nhận trọn vẹn vì các lý do nào đó mà đại diện quốc gia đó nêu lên và được Liên Hiệp Quốc chấp thuận.

Việt nam thực tế đã tham gia các công ước quốc tế về nhân quyền một cách trọn vẹn tức là không hề yêu cầu LHQ cho mình tạm thời hay không áp dụng một hay nhiều điều khoản nào trong các công ước về Nhân quyền. Điều này đã được nhiều tổ chức, nhiều quốc gia kính trọng quốc gia VN chúng ta vì tuy là một nước đang phát triển, Nhà nước VN đã ký kết gia nhập và cam kết tôn trọng các điều ước Quốc tế về Nhân quyền, điều đó nói lên Chính phủ VN cam kết với thế giới tôn trọng các quyền con người mà không có bất cứ bảo lưu nào.

Thực tế VN trong Hiến pháp hiện nay đã ghi nhận các quyền này trong rất nhiều điều khoản của Hiến pháp năm 1992. Cụ thể nhất một trong các điều thể hiện việc VN tôn trọng các công ước quốc tế về nhân quyền là Điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền được hội họp, lập Hội, biểu tình theo qui định của pháp luật“. Thế giới đã thực sư hoài nghi chúng ta khi đọc Hiến pháp năm 1992 vì đọc lên đều toát lên việc các nhà làm luật VN đều cam kết với nhân dân của mình và với thế giới rằng đất nước này là thành viên của LHQ đã tôn trọng các công ước Quốc tế về Nhân quyền và thể hiện quyết tâm tôn trọng bằng cách ghi trong Bản Hiến pháp của mình, tức là đạo luật căn bản và tối thượng của các đạo luật và các đạo luật làm ra sau này đều có nhiệm vụ thực hiện các khoản, điều của Hiến pháp.

Thực tế tại VN có nhiều điều khoản về quyền con người đã được Quốc Hội, làm ra các đạo luật thực hiện nghiêm chỉnh, như quyền về tự do kinh doanh đã và đang được làm tốt. Chính phủ tôn trọng và thực hiện các đạo luật này bằng các văn bản dưới luật.

Tuy nhiên đối với các quyền con người tại Điều 69 của Hiến pháp thì trong một thời gian dài đã không được Quốc Hội quan tâm để làm ra các đạo luật; bên phía hành pháp, Nhà nước do đó đã không tôn trọng đầy đủ các điều khoản trong Hiến pháp mà đã chỉ ra các Nghị định để qui định khung pháp lý cho các vấn đề quan trọng về các quyền chính trị như quyền tự do ngôn luận, báo chí lập hội, biểu tình….. Làm như vậy là vi phạm Hiến pháp. Nếu chỉ ra các qui định hạn chế các quyền tự do thì việc người dân sẽ làm theo ĐẠO LUẬT HIẾN PHÁP tức là họ được quyền tự do không giới hạn về các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Hai LS này chỉ làm những điều mà các điều ước QT về nhân quyền, về quyền của người LS được phép làm căn cứ Tuyên ngôn về Quyền bào chữa của LS năm 1998 mà LHQ đã thông qua và được Chủ tịch Hội Luật sư thế giới đã gửi thư đến Thủ tướng Nguyến Tấn Dũng về việc bắt giam và truy cứu trái phép hai LS này là hai Luật sư hội viên của Hội Luật sư thế giới. (xin xem thư gửi cho Thủ tướng NTD của chủ tịch Hội Luật sư thế giới thay mặt Hội về việc phản ứng với việc bắt giam hai LS hội viên của Hiệp Hội LS thế giới UIA).

Kính thưa HĐXX và đại diện VKSNDTC,

Tôi xin được đề cập đến điều 88 của Bộ Luật HS như sau :

Cần có đánh giá thật chính xác về các vấn đề “tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân” và “làm ra, tàng trữ, lưu hành tài liệu chống Nhà nước”

Như đã phân tích ở trên, đối với cả hai bị cáo phạm tội theo Đ.88 BLHS không được cấu thành tội phạm vì thiếu yếu tố chủ quan là động cơ chống Nhà nước.


Tuy nhiên tôi xin được bàn thêm về những khái niệm được nêu lên trong các điểm a và c của khoản 1 Đ.88 BLHS vì cấp Sơ thẩm đã làm cho quyền tự do ngôn luận hiến định bị mất đi ý nghĩa đích thực của nó.

Theo tự điển Bách khoa toàn thư thì tuyên truyền là “hành vi phổ biến một chủ trương, một học thuyết để làm chuyển biến thái độ của quần chúng và thúc đẩy quần chúng hành động theo một đường lối và nhằm một mục đích nhất định”.

.

Trước hết cần xác định rằng tuyên truyền là một từ ngữ được dùng riêng trong lãnh vực chính trị với một nội hàm nhất định nên không thể bị đem ra sử dụng một cách bừa bãi được. Cách nói “ông bạn A tuyên truyền với ông bạn B rằng …” hay “ông bố tuyên truyền với đứa con rằng …” là lối dùng từ bừa bãi. Tuy nhiên tùy cách nhìn từ các nền văn hoá hoặc thể chế chính trị khác nhau mà bản thân từ tuyên truyền mang nghĩa tiêu cực hay tích cực. Trong những nền văn hoá xem trọng nhân phẩm của con người ở phương Tây, hành vi tuyên truyền – với bất kể nội dung tuyên truyền nào – luôn mang nghĩa tiêu cực vì bản thân hành vi này đã có chủ ý lèo lái đối tượng về một lối suy nghĩ hoặc hành động mà chính đối tượng đó không muốn có.

Trong cách hiểu này, tuyên truyền là nhồi sọ hoặc che lấp khả năng phê phán của đối tượng. Trong khi đó, trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt Nam, tuyên truyền được sử dụng với nghĩa trung dung.

Theo đó, hành vi tuyên truyền được đánh giá xấu hay tốt là tùy vào nội dung được tuyên truyền. Người nào tuyên truyền tốt cho chính sách của Nhà nước Việt Nam thì là người tốt, người nào tuyên truyền chống đối nó thì bị xem là phạm pháp. Nhưng dù hiểu thế nào, hành vi tuyên truyền cũng có một số đặc điểm chung khiến người ta không thể lầm lẫn nó với các hành vi truyền thông khác.

.

Về mặt nội dung, những điều được đem ra tuyên truyền phải xuất phát từ một học thuyết hoặc chủ trương, tức là tập hợp những suy tư có hệ thống. Không ai gọi sự bày tỏ những ý nghĩ vụn vặt, nông cạn hay ngẫu hứng là tuyên truyền.

Hiện nay cộng đồng nhân loại có chung quan điểm chống lại một số chủ trương như chủ trương diệt chủng, chống nhân loại, chống hoà bình, kỳ thị chủng tộc, khủng bố. Do đó mọi hành vi tuyên truyền cho chúng và thực hiện chúng cũng bị cấm. Thông thường, muốn cấm một đề tài chính trị, các Nhà nước pháp quyền phải đưa ra luật để định nghĩa rõ ràng về đề tài bị cấm đó. Luật pháp cũng sẽ phải ấn định thật rõ những phương tiện nào bị cấm dùng để tuyên truyền cho đề tài này.

Về mặt hình thức, người tuyên truyền luôn luôn tìm cách đưa ra thông tin một cách thiên vị để dễ lèo lái đối tượng. Những thông tin này không nhất thiết phải sai lạc. Chúng có thể đúng ở một mặt nào đó nhưng nhất định không thể hiện vấn đề một cách trọn vẹn và đầy đủ. Ngoài ra, để dễ kích động quần chúng, người tuyên truyền thường dùng cách trình bày giản lược, có khuynh hướng đánh động vào những cảm xúc hơn là khơi dậy sự suy xét của đối tượng. Phương tiện tuyên truyền là tờ rơi, bích chương, phim ảnh, báo chí, truyền hình, radio và các phương tiện truyền thông đại chúng khác. Để thực hiện hiệu quả việc tuyên truyền, chủ thể tuyên truyền đặt ra một kế hoạch quy mô để lập đi lập lại vấn đề một cách có hệ thống trên các phương tiện truyền thông.


Nếu thiếu một hay nhiều đặc điểm về nội dung, phương thức thực hiện và cả về sự qui mô nêu trên thì một hành vi sẽ không còn được gọi là tuyên truyền nữa.

Trên thực tế, nếu xét về mặt hiệu quả, tầm mức quy mô và tầm mức ảnh hưởng, cũng chỉ có một Nhà nước mới có khả năng tuyên truyền một cách hữu hiệu vì chỉ có Nhà nước mới có đủ phương tiện để phổ biến chủ trương hoặc học thuyết một cách có hệ thống, trong thời gian lâu dài, bằng các phương tiện truyền thông đại chúng, đến đông đảo quần chúng để làm chuyển biến thái độ của quần chúng và thúc đẩy quần chúng hành động theo một đường lối nhất định.

Để tuyên truyền, Nhà nước Việt Nam đã sử dụng một bộ máy khổng lồ gồm khoảng 700 cơ quan truyền thông làm việc có qui củ dưới sự lãnh đạo rất chặt chẽ của các cơ quan văn hoá, thông tin và tư tưởng. Để tuyên truyền cho một chính sách hoặc chủ trương, các cơ quan nhà nước Việt Nam thường cho phổ biến hẳn một kế hoạch về tuyên truyền trong đó ấn định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, hình thức, phương tiện thực hiện và bộ phận chỉ đạo. Trước ưu thế ấy, một cá nhân ở Việt Nam khó có thể làm được công việc tuyên truyền hoặc phản tuyên truyền cho có kết quả. Cho nên nói LS. Đài hay LS. Công Nhân với các hành vi vừa qua không thể nói là họ tuyên truyền.

Theo tôi, các cơ quan điều tra đã nhận định tầm ảnh hưởng các hoạt động của hai nhà Bất Đồng Chính Kiến khi cho rằng HỌ tuyên truyền chống chính quyền. Khi xem xét vụ việc của hai nhà bất đồng chính kiến, các cơ quan này đã không áp dụng cùng một tiêu chuẩn đánh giá như đối với các cơ quan Nhà nước.

Cơ quan điều tra không chứng minh HỌ đã có kế hoạch tuyên truyền cho học thuyết nào, với mục đích, yêu cầu, nội dung, hình thức, phương tiện hoạt động và bộ phận chỉ đạo như thế nào?

Trong phiên xử sơ thẩm, động từ tuyên truyền đã bị hiểu đơn giản là hành vi nói hay viết một điều gì đó cho người khác nghe một vài lần. Nếu hiểu tuyên truyền theo nghĩa đó thì bất cứ ai trao đổi điều gì với người khác cũng có thể bị xem là phạm pháp nếu công an cho rằng điều đó có mục đích chống Nhà nước . Hiểu theo nghĩa đó thì bất cứ lời phát biểu bất mãn nào dù ở trong quán nhậu hay phạm vi gia đình đều là hành vi phạm pháp . Với cách hiểu như thế, số người vi phạm pháp luật ở Việt Nam sẽ rất lớn . Hậu quả là các cơ quan thi hành luật sẽ xử lý không xuể các trường hợp phạm tội .

Về mặt hình thức, những điều mà hai nhà bất đồng chính kiến đã làm không có qui mô của hành vi tuyên truyền, nếu hiểu từ ngữ này theo đúng nghĩa của nó. Đ ối với LS. Đài chỉ mới gặp có một lần cả 03 người sinh viên Hà Nam, có một người đã gặp 03 lần, mỗi lần từ 30 đến 90 phút, trong đó nội dung trao đổi luôn bị thay đổi, bao gồm nhiều lãnh vực khác nhau từ hỏi thăm cá nhân, tư vấn pháp lý, các vấn đề triết học, nhân quyền và thời sự .

Toà dẫn chứng rằng Ls. Đài đã viết 2 bài “Quyền tự do thành lập đảng” và “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng xây dựng chế độ đa đảng” và gửi đăng trên đài BBC ở Anh Quốc. Nhưng 02 bài này không mang nội dung chống Nhà nước, như tôi đã phân tích trong vấn đề Đảng và Hiến pháp ở trên.

Những bài này, rõ ràng nhất là bài thứ 2, mang tính cách đóng góp cho một cuộc thảo luận công khai trên một trang web truyền thông và không mang tính tuyên truyền. Như đã đề cập ở trên các nhân viên của VPLS THIÊN ÂN đều khai rằng họ không hoạt động tuyên truyền và không bị NVĐ lôi kéo vào các hoạt động này.

Ông Phạm Văn Trội cũng khai rằng ông tự ý tìm đến g ặp LS Đài để nhờ tư vấn về nhân quyền và pháp luật chứ không phải để hoạt động tuyên truyền. Tất cả những người này đều có trình độ đại học nên biết rõ điều họ đã làm . Tại phiên Tòa sáng nay, chúng tôi đã hỏi rất kỹ các nhân chứng v/v cái gọi là lớp học có giống như các lớp học họ đang theo học tại khoa báo chí không thì họ nói, họ chỉ mới đến một, hai lần và đến vì đi theo bạn, tò mò và qua trao đổi ngắn thì thấy hai LS này có quan điểm khác với Nhà trường của họ . Họ nói đó chỉ là các việc trao đổi ngắn không phải là lớp học như cáo trạng đã hoàn toàn căn cứ theo kết luận của cơ quan điều tra và bản án sơ thẩm cũng chẳng làm gì khác hơn là xét theo KLĐT, Cáo Trạng và xét xử không xét hỏi nhân chứng một cách thận trọng như sáng nay các LS chúng tôi đã hỏi-các nhân chứng đã trả lời hoàn toàn khác với kết luận điều tra và cáo trạng đã nêu .

Việc làm thiếu thận trọng trên chỉ muốn kết tội hai LS này là tuyên truyền chống Nhà nước XHCNVN.Thực ra như đã phân tích việc làm của hai LS hoàn toàn có căn cứ pháp luật theo các điều ước Quốc tế về nhân quyền mà VN đã gia nhập. Suốt trong qúa trình hành nghề của hai LS, họ hoàn toàn tuân thủ pháp luật và không bị Đoàn Luật sư hay các cơ quan hành chánh quản lý Nhà nước phạt vi phạm hành chánh gì cả.

Về mặt khác, trang 7 của bản án Sơ thẩm ghi: Ông NVĐ đã viết một số bài và trả lời phỏng vấn trên một vài trang internet và kết luận những điều ông Đài nói hoặc viết là “sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, kích động nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam, kêu gọi thay đổi chế độ, v.v…. Toà sơ thẩm không vạch được ra những điều cụ thể nào do ông NVĐ trực tiếp viết hoặc nói ra mà bị toà xem là “xuyên tạc chính quyền nhân dân”.

Theo Bách khoa toàn thư, xuyên tạc là “trình bày sai sự thật với dụng ý xấu”, còn chính quyền là “bộ máy điều hành, quản lí công việc của Nhà nước”. Như vậy nếu điều được trình bày là đúng sự thật thì đó không phải là xuyên tạc. Ngay cả khi điều được trình bày đúng sự thật ấy có nhằm phê phán chính quyền thì hành vi này cũng không nằm trong phạm vi truy tố của điểm a, khoản 1 của Đ.88 BLHS vì điều này chỉ qui định về việc xuyên tạc.

Trong lãnh vực nhân quyền, qua nghiên c ứu các bài viết của LS Đài có thể khẳng định rằng những điều mà Ls . Đài từng phát biểu đều có cơ sở thực tế, có chứng cứ, có nhân chứng nên không thể sai sự thật . LS Đài vốn biết rằng nhân quyền là lãnh vực mà chính quyền xem là nhạy cảm nên đã làm việc rất cẩn thận và trung thực, không bao giờ dám phóng đại hoặc vu cáo.

Phỉ báng là “chê bai, nói xấu” và thường tùy thuộc vào quan điểm cá nhân. Theo tôi, đối với bất cứ việc làm nào cũng có người khen, kẻ chê . Cho nên đòi hỏi không có lời chê là một đòi hỏi không thực tế . Cấp Sơ thẩm đã dẫn chứng rằng Ls. Đài “nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam” trong khi vấn đề này lại hoàn toàn nằm ngoài phạm vi truy tố của Đ. 88 BLHS 1999 . Cấp sơ thẩm đã không phân biệt rạch ròi chính quyền với chế độ XHCN và Đảng CSVN . Cần nói thêm rằng chỉ có BLHS của năm 1985 mới có tội danh “Tuyên truyền chống chế độ XHCN” (Đ. 82) mà thôi . BLHS 1999 đã bỏ điều này .

Ông NVĐ là một luật sư nhân quyền. Để giúp thân chủ đòi hỏi quyền lợi chính đáng và hợp pháp, ông Đài có quyền và có trách nhiệm nâng cao sự hiểu biết của mình bằng cách nghiên cứu các luồng tư tưởng và các quan điểm trên các lĩnh vực khác nhau của xã hội.

Phiên tòa Sơ thẩm đã kết án ông Đài vì tội “tàng trữ, lưu hành tài liệu chống Nhà nước”. Theo tôi, vì các nhà làm luật Việt Nam chưa làm rõ được các khái niệm “tàng trữ và lưu hành” trong thời đại mới nên họ đã để cho các qui định này của Đ.88 BLHS làm mất đi các nội dung giá trị của các quyền hiến định về dân sự của công dân như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền nghiên cứu khoa học và quyền được tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước.

Nội dung của Đ.88 Bộ Luật Hình sự đang có mâu thuẫn trầm trọng với nội hàm của quyền tự do nghiên cứu và sáng tạo (Đ.51 Bộ Luật Dân sự 2005) và chức năng xã hội của luật sư (Đ.3, Luật Luật sư 2006), trong đó chức năng xã hội của luật sư là “góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” . Ở đây rõ ràng các nhà làm luật Việt Nam cần điều chỉnh các quy định để bảo đảm tính nhất quán của các quyền hiến định đối với các bộ luật.

Để kết tội “làm ra, tàng trữ, lưu hành” của Đ.88 BLHS , cấp Sơ thẩm đã sử dụng 121 đầu tài liệu thu giữ được ở nhà hoặc văn phòng của LS Đài . Qua xét hỏi sáng nay tại phiên Tòa Phúc thẩm thì ông Đài khẳng định ông không phải là tác giả của tòan bộ các tài liệu này như cáo trạng và bản án cấp Sơ thẩm đã viết.

Cấp Sơ thẩm đã không phân loại tính chất và phân tích nội dung của 121 tài liệu này. Ông Đài thừa nhận có viết 02 bài “Quyền tự do thành lập đảng” và “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng xây dựng chế độ đa đảng” Bản án Sơ thẩm trang 4&5“có nội dung bôi nhọ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng trong điều kiện hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ năng lực để lãnh đạo cách mạng nên cần phải có một đảng khác thay thế hoặc phải đa nguyên, đa đảng mới đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo đói”.

Việc Ls. Đài viết hai bài này hoàn toàn nằm trong phạm vi của quyền tự do ngôn luận đã được Hiến pháp 1992 và Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị quy định.

Ngoài ra theo phân tích ở trên, cấp Sơ thẩm không cơ sở để qui kết 02 bài viết của Ls. Đài có tính cách chống Nhà nước. Cách dùng từ như “bôi nhọ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam” cho thấy cấp Sơ thẩm đã tìm cách áp đặt quan điểm chủ quan của mình và đi ra ngoài phạm vi truy tố của Đ. 88 BLHS.

Ngoài ra bản án Sơ thẩm (trang 6) đã kết luận rằng ông Đài là “người trực tiếp soạn thảo ‘Điều lệ Đảng Dân chủ’ … của Hoàng Minh Chính”, mặc dù trong phiên xử, toà đã không tìm đủ chứng cứ để buộc tội ông Đài về điểm này. Khi chưa có biện pháp xử lý đối với Đảng Dân chủ 21 mà đã buộc tội ông Đài về việc có liên quan đến đảng này. Do đó sự cáo buộc Nguyển Văn Đài “làm ra tài liệu chống Nhà nước” là vô căn cứ.

Nói về Tàng trữ -theo Bách khoa toàn thư là việc cố ý “cất giấu cẩn thận, không muốn cho ai biết). Ở đây, các tài liệu thu được tại văn phòng cũng như nhà riêng là những tài liệu được NVĐ sử dụng làm tài liệu nghiên cứu nên anh ta không có ý định che giấu chúng . Các nhân viên công an theo dõi ông Đài trong những tháng qua có thể xác nhận rằng cửa của văn phòng luật sư Thiên Ân lúc nào cũng rộng mở cho mọi người ra vào và các máy tính ở đó cũng đã để cho nhiều người sử dụng chung cho nên cáo buộc anh ta bí mật cất giấu tài liệu là một cáo buộc phi thực tế .

Khi công an đến khám xét văn phòng cũng như nhà riêng của NVĐ, các tài liệu này đang ở trong 05 máy tính hoặc được để trên các giá sách và trong tủ tài liệu cùng với các tài liệu nghiên cứu về pháp luật Việt Nam và pháp luật Quốc tế cũng như các hồ sơ của khách hàng. Tính chất sưu tầm để nghiên cứu thể hiện rõ ở 02 điểm:

Thứ nhất, những tài liệu này thể hiện nhiều quan điểm khác nhau, có bênh, có chống, nằm lẫn lộn với những tác phẩm nghiên cứu và những tài liệu pháp lý.

Thứ hai, Ls. Đài không nhất thiết phải có cùng quan điểm với những tài liệu mà mình đang có. Thí dụ ông Đài không chống bầu cử trong khi vẫn giữ những tài liệu kêu gọi tẩy chay bầu cử của linh mục Lý.

Để nghiên cứu và tìm hiểu thấu đáo một vấn đề, không thể chỉ nghe người khác nói không thôi hoặc chỉ đọc những tài liệu được viết theo cùng một quan điểm.

Khi biết LS Đài quan tâm đến một số vấn đề, nhiều người đã đem đến trao tận tay hoặc gửi lại văn phòng một số tài liệu bị toà đánh giá là “cực kỳ phản động, bóp méo, xuyên tạc sự thật” như “Đảng cộng sản Việt Nam là nghiệp chướng”, “Nhật ký Dân oan” hay tài liệu của Quốc-Quốc . Trong phiên xử sơ thẩm, LS Đài trung thực nhận có giữ những tài liệu này mặc dù có nhiều tài liệu anh ta không hay biết là có trong văn phòng hoặc chưa đọc qua. Điều này thể hiện rằng LS Đài không có ý giấu diếm-ngay cả đối với những tài liệu bị cáo buộc nặng nề nhất-vì Ls. Đài tin vào quyền tự do ngôn luận, quyền tự do nghiên cứu hiến định của mình. Việc cáo buộc Ls. Đài tàng trữ đã vi phạm các quyền tự do hiến định.

Khái niệm “ tàng trữ tài liệu trong máy tính ”. Trong thời đại nối mạng toàn cầu ngày nay, khái niệm này đã bị lỗi thời. Hàng ngày, dù muốn hay không, người sử dụng email đã phải nhận hàng trăm tài liệu từ những người quen lẫn người lạ. Nếu có siêng năng mà hủy các tài liệu này thì một người sử dụng máy tính bình thường cũng không thể xoá sạch vết tích trên máy tính được. Thông thường, ít ai có thể quản lý hữu hiệu được khối lượng email nhận được hàng ngày.

Ngoài ra mạng internet toàn cầu còn là một kho lưu trữ thông tin khổng lồ. Bất cứ lúc nào người sử dụng cũng có thể lên internet để lấy thông tin cần thiết, hoặc có thể lưu trữ thông tin riêng trên internet, mà không cần phải “tàng trữ” riêng trên máy tính cá nhân nữa. Do đó trong thời đại internet hiện nay, việc ấn định biên giới địa lý trong việc lưu trữ tài liệu là một hành động trái tự nhiên và không thể thực hiện hữu hiệu được trong thực tế.

Trong bản án sơ thẩm không có một chỗ nào cáo buộc rõ anh Đài về hành vi “lưu hành các tác phẩm, văn hoá phẩm có nội dung chống phá Nhà nước”. Lưu hành là“đưa ra sử dụng rộng rãi từ người này, nơi này đến người khác, nơi khác trong xã hội” (BKTT, sđd). Tuy nhiên trong phần xét về tội trạng của Ông NVĐ trong bản án sơ thẩm, trang 5 có đoạn ghi: “Các bị cáo đã phát tán các tài liệu này trên các phương tiện thông tin cho các tổ chức phản động người Việt tại nước ngoài”. Để loại bỏ mọi ngộ nhận, tôi giả thiết rằng toà hiểu phát tán là lưu hành. Ngay cả trong giả thiết này, việc cáo buộc đã thiếu hẳn sự chính xác cần thiết. Thay vì liệt kê cụ thể rằng NVĐ đã có những hành vi phạm tội gì, bằng phương tiện nào và ở đâu thì Toà lại mô tả sự việc bằng một chuỗi những từ không xác định như “các bị cáo”, “các tài liệu”, “các phương tiện thông tin”, “các tổ chức phản động” trong câu nêu trên. Trong bản án, cụm từ “các tài liệu này” chắc đã được dùng để chỉ 02 tài liệu “Quyền tự do thành lập đảng” và “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng xây dựng chế độ đa đảng” đã được liệt kê ngay trong đoạn viết trước đó. Như đã phân tích ở trên, cấp Sơ thẩm không có cơ sở để cáo buộc 02 bài viết của Ls. Đài có mục đích chống Nhà nước.

Đài BBC là một cơ quan truyền thông hoạt động có uy tín trên thế giới từ nhiều năm qua có thể nói không quá đáng là không một trí thức, một nhà lãnh đạo nào mà không nghe các thông tin của BBC/Vietnamese. Không ai có thể nói rằng đài BBC là của người Việt ở nước ngoài hoặc là phương tiện thông tin của các tổ chức phản động người Việt tại nước ngoài. Nhiều nhân viên cao cấp chính phủ, đại biểu Quốc hội, cán bộ nghiên cứu nước ta đã thường lên đài này để phát biểu, trong số đó có nhiều ý kiến phê phán chính quyền khá mạnh mẽ. Toà không có chứng cứ nào về việc NVĐ phát tán 02 tài liệu này đến các cơ quan truyền thông khác.

Trong thời đại internet, các tờ báo và trang web có thể dễ dàng sao chép, sử dụng, nhân rộng các thông tin có sẵn tại một trang web khác để làm rộng đường dư luận mà không cần phải xin phép tác giả. Tóm lại kết luận cho rằng NVĐ đã thực hiện hành vi lưu hành tác phẩm có nội dung chống phá Nhà nước là hoàn toàn vô căn cứ.

Kết luận và kiến nghị với Hội đồng xét xử cấp Phúc thẩm:

Trong kháng cáo của Ls.Đài đã khẳng định anh là một người yêu nước. Là một luật sư nhân quyền, anh Đài đã hết lòng bảo vệ quyền công dân hiến định và đã đấu tranh phê phán những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật của những nhân viên và cơ quan nhà nước. Trên thực tế, những đóng góp trong lãnh vực tự do tôn giáo của NVĐ đã giúp Việt Nam cải thiện tình trạng nhân quyền và nâng cao uy tín với thế giới. Những đóng góp này cũng giúp cho chính quyền hiểu hơn về những người theo đạo Tin lành và từ đó giúp cho tình hình Việt Nam thêm ổn định..

Việc bắt giam và xét xử NVĐ đã không được thực hiện một cách hợp pháp và đúng thủ tục qui định. Cơ quan công an đã điều tra về các việc làm của NVĐ đưa ra những suy đoán buộc tội thiếu cơ sở. Viện Kiểm sát Nhân dân và Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội đã tiếp nhận thiếu suy xét những kết luận này để buộc tội và kết án LS Đài theo Đ.88 BLHS .

Ls. Đài đã thực thi có ý thức quyền tự do ngôn luận của mình. Quyền dân sự của công dân này được bảo vệ bởi Hiến pháp 1992. Quyền hiến định này cũng được bảo vệ một cách vững chắc về pháp lý bởi Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị kể từ khi Nhà nước CHXHCNVN ký kết tham gia công ước này vào năm 1982 và bởi Luật Ký kết, Gia nhập và Thực hiện Điều ước Quốc tế vào năm 2005. Như thế, công dân Việt Nam được hưởng đầy đủ và trọn vẹn quyền tự do ngôn luận theo qui định của điều 19 của Công ước Quốc tế về quyền dân sự và chính trịmà không chịu bất cứ một giới hạn luật định nào khác. Luật quốc tế xem hành vi bày tỏ ý kiến phản đối chính quyền một cách ôn hoà là không phải là tội phạm hình sự. Như vậy hành động đấu tranh, phê bình, chỉnh sửa một cách ôn hoà, bằng lời nói hay bằng chữ viết của NVĐ đối với các cơ quan hoặc nhân viên Nhà nước cần được xem là những hành vi hợp pháp.

Dù đứng trên quan điểm của luật hình sự Việt Nam, những lý luận buộc tội Ls. Đài cũng không đứng vững. Để cáo buộc NVĐ tội chống Nhà nước CHXHCNVN, Toà đã viện dẫn lý do LS Đài chống Hiến pháp, có liên lạc với những những người Việt Nam lưu vong, có ý thức chống Nhà nước quyết liệt và là thành viên của những tổ chức chống Nhà nước CHXHCNVN. Nhưng tất cả các cáo buộc này đều sai vì đã dựa trên một sự ngộ nhận về tính duy nhất của sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và dựa vào những suy luận, võ đoán, gán ghép vô căn cứ và phi thực tế về một số cá nhân và tổ chức ở trong và ngoài nước. Vì không chứng minh được rằng NVĐ có ý thức chống Nhà nước-là yếu tố chủ quan của tội phạm-nên hành vi phạm tội theo Đ.88 BLHS cũng đã không được cấu thành.

Ngoài ra, như tôi đã phân tích ở trên, Nhà nước cần xét lại toàn bộ nội dung của Đ.88 BLHS để bảo đảm tính nhất quán với các bộ luật khác, với Hiến pháp và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

Đ.88 BLHS hiện có những khái niệm rất mơ hồ và bao quát nên đã tạo cơ hội cho các cơ quan thi hành pháp luật diễn giải sai, tuỳ tiện hay độc đoán khiến cho việc áp dụng luật pháp không còn nghiêm minh nữa.

Sau khi phân tích lại toàn bộ vụ án của LS . Nguyễn Văn Đài và Ls.Lê Thị Công Nhân, tôi kiến nghị cấp Phúc thẩm những điều sau đây:

LONG TRỌNG KIẾN NGHỊ TRƯỚC KHI TIẾP TỤC XÉT XỬ CẦN THIẾT:

– DO CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐẶC BIỆT LÀ CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG Ở CẤP SƠ THẨM ĐÃ KHÔNG CẨN TRỌNG XEM XÉT VÀ KIẾN NGHỊ CÁC CƠ QUAN CẤP TRÊN CỦA HỌ LÀ VKSNDTC VÀ TANDTC ĐỀ YÊU CẦU QUỐC HỘI, ỦY BAN TVQH XEM XÉT TÍNH CHẤP HỢP PHÁP, HỢP HIẾN CỦA ĐIỀU 88 LUẬT HÌNH SỰ.

– DO VẬY, KÍNH ĐỀ NGHỊ tại phiên Tòa cấp Phúc thẩm, HĐXX và đại diện VKSNDTC yêu cầu ông Chánh án TANDTC, ông Viện trưởng VKSNDTC kiến nghị Quốc Hội xem xét điều 88 Bộ Luật Hình sự có trái với nội dung của các điều khoản về Quyền của công dân tại điều 53, điều 59 và điều 69 của Hiến pháp.

Đây là điều rất bình thường trong tố tụng ở các Tòa Án các nước. Ở VN theo chúng tôi được biết chưa có tiền lệ này. Tại phiên Tòa hôm nay, kính đề nghị TANDTC và VKSNDTC căn cứ vào các điều 52, và khoản 2 điều 81 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật nên và cần thiết yêu cầu Quốc Hội:

1 – Xem xét và Giải thích Điều 88 của Bộ Luật Hình sự có trái với Hiến pháp năm 1992 hay không?

2– Xem xét và đối chiếu với các công ước VN đã gia nhập với điều 88 của Bộ Luật HS và Căn cứ khoản 2 điều 6 Luật ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005 thì hiệu lực của điều 88 là như thế nào? Áp dụng các điều ước Quốc tế, đặc biệt về nhân quyền mà VN đã gia nhập thay vì áp dụng điều 88 Bộ Luật HS đối với hai bị cáo.

Bởi các lẽ trên, HĐXX cần xem xét yêu cầu của các Luật sư chúng tôi-tạm thời ngưng việc xét xử để TANDTC và VKSNDTC có văn bản gửi đến UBTVQH vì Quốc Hội thực hiện quyền hiến định là GIẢI THÍCH LUẬT VÀ GIÁM SÁT VIỆC XEM XÉT ĐIỀU 88 CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ CÓ TRÁI VỚI HIẾN PHÁP không?

Về điều 88 Bộ Luật Hình sự đối với Hiến pháp và các công ước Quốc tế về Nhân quyền mà VN đã gia nhập có mâu thuẫn không?

Làm được điều trên, mới là có tinh thần bảo vệ Hiến pháp và Pháp luật của quốcgia VN.

Với các đề nghị nêu trên, sau khi có được sự trả lời chính thức của Quốc Hội, UBTVQH , tôi kính yêu cầu Hội đồng xét xử tuyên:

a). Huỷ bản án Sơ thẩm số 153/2007/HSST ngày 11.5.2007. Đình chỉ vụ án theo Đ.251 của BLTTHS vì các cơ quan tiến hành tố tụng đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS. Hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân thực sự vô tội theo nguyên tắc “Không có tội khi không có luật” theo Điều 2 của BLHS;

b). Trả tự do ngay cho hai Luật sư Nguyễn văn Đài và Lê Thị Công Nhân .

c). Hoàn trả các tài sản bị tịch thu; đối với các tài liệu thu thập được tại VPLS Thiên Ân mà ông Đài không thừa nhận là của ông do của bá tánh mang lại, nếu thấy có hại thì tuyên tiêu hủy .

d). Phục hồi danh dự cho LS Nguyễn văn Đài bằng cách hủy bỏ quyết định thu hồi thẻ luật sư và giấy phép hành nghề của văn phòng luật sư Thiên Ân .

a) Bài Luận cứ này cũng như các Luận cứ của các LS chúng tôi đã tham khảo đầy đủ các ý kiến của diễn đàn, trí thức, Luật sư trên thế giới, của một số cộng đồng người Việt ở hải ngoại đã quan tâm và bày tỏ ý kiến trên mạng Internet về số phận của hai LS trước khi phiên Tòa Phúc thẩm xét xử.

Luận cứ bào chữa này cũng đã truyền tải một số ý kiến của bà Vũ Minh Khánh-vợ Luật sư Nguyễn văn Đài đã muốn đưa ra các Luận cứ xác đáng nhằm cung cấp cho HĐXX hiểu rõ hơn về các việc làm của chồng bà, các điều này được bà cung cấp cho Qúy Tòa có trong bút lục hồ sơ vụ án .

Trân trọng cám ơn sự quan tâm của Hội đồng xét xử.

LS. ĐẶNG TRỌNG DŨNG (ĐẶNG DŨNG)


Chuyên mục:Khoa học pháp lý
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: