Trang chủ > Khoa học pháp lý > ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ ĐIỀU 80 BỘ LUẬT HÌNH SỰ

ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ ĐIỀU 80 BỘ LUẬT HÌNH SỰ

June 11, 2007

Không phải bất cứ ai tiếp xúc với các cá nhân, cơ quan, tổ chức tình báo nào đó ở nước ngoài thì đều là gián điệp của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó. Ngoài hoạt động tình báo, các cá nhân, cơ quan, tổ chức nào đó ở nước ngoài vẫn có những hoạt động xã hội bình thường với những cá nhân, tổ chức khác. Vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng cũng phải có tài liệu chứng minh chủ thể phạm tội đã có hành vi đồng ý làm gián điệp cho một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào đó ở nước ngoài, nếu không có tài liệu chứng minh vấn đề này thì không đủ yếu tố cấu thành tội gián điệp.

Điều 80. Tội gián điệp

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại;

c) Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

3. Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự.

Định nghĩa: Gián điệp là hành vi hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại; cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam .

.

Như vậy, tội danh này có ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ như sau:

Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội phạm: Tội gián điệp xâm hại đến an ninh quốc gia của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, sự vững mạnh của hệ thống chính quyền Nhà nước XHCN Việt Nam.

Mặt khách quan của tội phạm:

– Hoạt động tình báo: là hành vi của người nước ngoài điều tra, thu thập mọi tin tức, tài liệu thuộc bí mật Nhà nước hoặc không thuộc bí mật Nhà nước để sử dụng chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Những tài liệu thuộc bí mật Nhà nước được quy định tại Pháp lệnh số 30/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/12/2000 về “Bảo vệ bí mật Nhà nước” .

Công dân Việt Nam có hành vi điều tra, thu thập hoặc cung cấp cho nước ngoài những tài liệu thuộc bí mật Nhà nước hoặc tuy không thuộc bí mật Nhà nước, nhưng để nước ngoài sử dụng chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Đây là hoạt động chủ yếu, nổi bật nhất của tội gián điệp.

– Phá hoại: thể hiện ở hành vi làm cho đối tượng của tội phạm hoàn toàn mất hẳn, không còn khôi phục được giá trị sử dụng hoặc chỉ mất một bộ phận, còn có thể sửa chữa, khôi phục được giá trị sử dụng, cũng như thể hiện ở hành vi làm cho việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội của Nhà nước bị cản trở, không hoàn thành được. Những hành vi đó có mục đích chống chính quyền nhân dân và vì lợi ích của nước ngoài.

– Gây cơ sở: thể hiện ở hành vi dụ dỗ, rủ rê, tìm người để có nơi ẩn náu, có người giúp đỡ và nói chung để tạo thuận tiện cho hoạt động gián điệp dưới một, hai hoặc ba mặt: hoạt động tình báo, phá hoại, gây cơ sở.

Hoạt động thám báo thể hiện ở hành vi hoạt động ở vùng biên giới vừa có tính chất thu thập tin tức, tình hình quân sự vừa có tính chất biệt kích vũ trang xâm nhập vào nội địa nước CHXHCN Việt Nam phục kích, tập kích, bắt cóc người.

Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội gián điệp có thể là người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam. Người nước ngoài có thể là ngoại kiều hoặc người gốc Việt Nam mang quốc tịch nước ngoài. Ví dụ: người đang ở trong nước nhận nhiệm vụ của tổ chức gián điệp nước ngoài, của người nước ngoài hoặc người do tổ chức gián điệp nước ngoài tung về nước thực hiện công việc do chúng chỉ đạo.

Mặt chủ quan của tội phạm:

Tội gián điệp thuộc loại tội phạm có cấu thành hình thức, được coi là hoàn thành từ thời điểm chủ thể nhận lời làm gián điệp hoặc từ thời điểm chủ thể xâm nhập biên giới dù chưa hoạt động gì. Không phải tất cả những hành vi vượt biên trái phép rồi trở về và bị bắt ngay từ khi mới xâm nhập biên giới thì đều phạm tội gián điệp. Cơ quan tiến hành tố tụng phải có đầy đủ tài liệu chứng minh người đó trong thời gian ở nước ngoài đã nhận lời làm gián điệp cho một quốc gia nào đó.

Không phải bất cứ ai tiếp xúc với các cá nhân, cơ quan, tổ chức tình báo nào đó ở nước ngoài thì đều là gián điệp của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó. Ngoài hoạt động tình báo, các cá nhân, cơ quan, tổ chức nào đó ở nước ngoài vẫn có những hoạt động xã hội bình thường với những cá nhân, tổ chức khác. Vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng cũng phải có tài liệu chứng minh chủ thể phạm tội đã có hành vi đồng ý làm gián điệp cho một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào đó ở nước ngoài, nếu không có tài liệu chứng minh vấn đề này thì không đủ yếu tố cấu thành tội gián điệp.

Phải đảm bảo nguyên tắc: “ Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội ” (Điều 72 Bộ luật Tố tụng Hình sự ).

Tội gián điệp và tội phản bội Tổ quốc giống nhau ở chổ đều có mối quan hệ với nước ngoài, nhưng khác nhau ở chổ trong đặc điểm pháp lý của tội phản bội Tổ quốc sự quan hệ đó có tính chất qua lại, chặt chẽ, thể hiện hành vi “câu kết”. Tội gián điệp chỉ nhằm mục đích chống chính quyền một cách chung chung, còn tội phản bội Tổ quốc nhằm đích lật đổ chính quyền. Nếu hành vi gián điệp có câu kết với nước ngoài nhằm lật đổ chính quyền của Nhà nước CHXHCN Việt Nam thì đó là thuộc về tội phản bội Tổ quốc .

Tội phạm được thực hiện do cố ý. Động cơ của tội phạm không có ý nghĩa định tội, mà chỉ có ý nghĩa quyết định hình phạt .

Tạ Phong Tần

Advertisements
Chuyên mục:Khoa học pháp lý
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: