Trang chủ > Khoa học pháp lý > NHƯ THẾ NÀO LÀ “KHỦNG BỐ”?

NHƯ THẾ NÀO LÀ “KHỦNG BỐ”?

PHÂN BIỆT ĐIỀU 79, ĐIỀU 84 VÀ ĐIỀU 85 BLHS

Việc điều tra, truy tố, xét xử phải triệt để bảo đảm nguyên tắc: “Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật”, không vì nhận thức pháp luật yếu kém hay vì bất cứ một động cơ, mục đích nào khác chi phối mà xét xử không đúng tội danh, lấy “râu ông nọ cắm càm bà kia” hoặc áp dụng hình phạt không đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.

Bộ Luật Hình Sự nước CHXHCN Việt Nam có một số tội danh được quy định tại Chương XI – Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, nếu không phân tích đặc điểm pháp lý, so sánh để thấy sự giống nhau và khác nhau của chúng thì có thể gây sự nhầm lẫn với những tội danh khác (ở các Chương khác) khi áp dụng; đó là các Điều 79, Điều 84, Điều 85 Bộ Luật Hình Sự (BLHS).

Điều 79. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân:

Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:

1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Ta thấy đặc điểm pháp lý cấu thành tội danh này như sau:

– Khách thể của tội phạm : (đối tượng bị xâm hại): Xâm phạm trực tiếp sự tồn tại của chính quyền nhân dân, của chế độ chính trị, kinh tế, xã hội đã được Hiến pháp quy định “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. (Điều 2 Hiến Pháp 2001).

– Mặt khách quan của tội phạ m : Tội phạm có dấu hiệu đặc trưng là “hoạt động thành lập tổ chức” hoặc “tham gia tổ chức”, cả hai hành vi này đều có chung một mục đích là “ nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Như vậy, dấu hiệu bắt buộc của tội này là người phạm tội phải có hành vi tự mình thành lập một tổ chức (cầm đầu, xúi giục) hoặc tham gia tổ chức nào đó (giúp sức, thực hiện) và phải nhằm mục đích “nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Chỉ cần cơ quan điều tra chứng minh được tổ chức này tồn tại thực tế và có mục đích, tôn chỉ nêu trên thì đã cấu thành tội phạm, không nhất thiết đã có hoạt động chống phá hay chống phá có đạt mong muốn hay không .

Hoạt động thành lập tổ chức chống chính quyền nhân dân là đề xướng ra chủ trương, đường lối hoạt động, tuyên truyền lôi kéo, tập hợp người vào tổ chức chống chính quyền nhân dân. Chủ trương, đường lối hoạt động của tổ chức chống chính quyền nhân dân có thể được cụ thể hóa bằng các tài liệu như: chính cương, điều lệ, chương trình hoạt động, hiệu triệu, tài liệu huấn luyện, v.v…; nhưng cũng có thể chỉ thu gọn trong các lời lẽ tuyên truyền, rủ rê người khác cùng đứng ra thành lập tổ chức hay tham gia tổ chức chống chính quyền nhân dân. Hoạt động thành lập tổ chức có thể là chuẩn bị cho việc thành lập tổ chức hoặc là đã thành lập được tổ chức.

Ngược lại, nếu người phạm tội có mục đích chống chính quyền nhân dân nhưng không chứng minh được người này thuộc một tổ chức nào cả mà hành động chống phá một cách đơn lẻ thì hành vi chống phá đó không cấu thành tội này mà tùy theo hành vi chống đối cụ thể như thế nào mà có thể cấu thành những tội khác như: Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 88), Tội phá hoại chính sách đoàn kết (Điều 87), Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội (Điều 86), v.v… Hoặc hành vi thành lập tổ chức, tham gia tổ chức nhưng lại không nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân thì cũng không đủ yếu tố cấu thành tội này mà có thể bị xử phạt hành chính về hành vi lập hội trái phép.

Hoạt động thành lập tổ chức chống chính quyền nhân dân có thể chỉ có một người (trường hợp mới thành lập nên chưa có thành viên), nhưng thực tế thì thường do nhiều người cùng thống nhất ý chí, cùng chung một mục đích đứng ra thành lập tổ chức. Được coi là hoạt động chống chính quyền nhân dân và tội phạm hoàn thành từ thời điểm một người đề xướng ra chủ trương, đường lối chống chính quyền nhân dân cho một người thứ hai biết, dù người thứ hai biểu thị thái độ đồng thuận hay không đồng thuận.

Tham gia tổ chức chống chính quyền nhân dân là trên cơ sở nhận thức được mục đích của tổ chức là nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, tán thành và tự nguyện đứng vào hàng ngũ của tổ chức, thực hiện các chủ trương và hoạt động cho tổ chức. Được coi là tham gia tổ chức chống chính quyền nhân dân và tội phạm hoàn thành từ thời điểm biểu thị sự đồng tình gia nhập tổ chức hoặc giấy chứng nhận là thành viên của tổ chức, không đòi hỏi phải có hoạt động cụ thể gì thực tế trong tổ chức hay chưa.

– Mặt chủ quan của tội phạm : Tội phạm thực hiện do cố ý trực tiếp .

– Chủ thể của tội phạm : bất kỳ ai là công dân nước CHXHCN Việt Nam có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể là chủ thể tội phạm này. Người nước ngoài cũng có thể là chủ thể tội phạm này với vai trò tổ chức, giúp sức, xúi giục

– Hình phạt: BLHS quy định đây là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên có khung hình phạt nghiêm khắc, nhẹ nhất là 5 năm tù, cao nhất là tử hình .

Khoản 1 Điều 13 BLHS quy định “tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự” như sau :

“ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”. Như vậy, những người có đặc điểm quy định tại Khoản 1 Điều 13 nêu trên mới là người không có năng lực trách nhiệm hình sự, còn lại đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự .

Điều 84. Tội khủng bố

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Phạm tội trong trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khoẻ, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

3. Phạm tội trong trường hợp đe doạ xâm phạm tính mạng hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

4. Khủng bố người nước ngoài nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì cũng bị xử phạt theo Điều này.

Ta thấy đặc điểm pháp lý cấu thành tội danh này như sau :

Khách thể của tội phạm (đối tượng bị xâm hại) : Là con người cụ thể và là bất kỳ ai (công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài) đang có mặt trong phạm vi lãnh thổ nước CHXHNC Việt Nam .

Nếu việc xâm hại không nhắm vào mục tiêu là con người mà nhắm vào các phương tiện, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật thì không cấu thành tội này mà có thể cấu thành một tội khác tùy theo vật bị xâm hại là cái gì. Hành vi khủng bố thông qua việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc tự do thân thể hoặc tinh thần của nhân viên Nhà nước, nhân viên tổ chức xã hội, của công dân hoặc của người nước ngoài nhằm xâm phạm sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, xâm phạm an ninh đối nội hoặc gây khó khăn cho quan hệ quốc tế, xâm phạm an ninh đối ngoại của nước CHXHCN Việt Nam .

Vì vậy, nếu đối tượng bị hành vi phạm tội xâm hại không phải là con người thì không cấu thành tội khủng bố mà có thể là một tội khác, ví dụ “Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật…” nêu ở phần dưới .

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở những hành vi như: giết người (khoản 1); bắt, giữ người, gây tổn hại cho sức khỏe người khác (khoản 2); đe dọa giết người hoặc uy hiếp tinh thần của những đối tượng nói trên (khoản 3).

Biện pháp giết người rất đa đạng, có thể là dùng chất nổ, chất cháy, hóa chất độc hại, vũ khí quân dụng, hung khí, v.v…

Nhân viên Nhà nước nói ở Điều luật bao gồm các cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước, trong đó kể cả bộ đội và công an là những đối tượng mà tội phạm này thường nhằm vào. Nhân viên tổ chức xã hội bao gồm cán bộ, thành viên hoạt động của các đoàn thể xã hội như: thanh niên, phụ nữ, công đàn, mặt trận, v.v…

Nhìn chung, tội khủng bố thể hiện về mặt khách quan có nhiều biểu hiện giống những hành vi của một số tội phạm cụ thể xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (quy định tại Chương XII BLHS) nhưng khác những tội phạm đó ở mặt chủ quan là “nhằm chống lại chính quyền nhân dân”.

– Mặt chủ quan của tội phạm : tội phạm được thực hiện do cố ý nhằm mục đích “chống chính quyền nhân dân” hoặc “nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đây là dấu hiệu bắt buộc để phân biệt tội khủng bố với các tội khác trong BLHS. Nếu không chứng minh được kẻ phạm tội có mục đích như đã nêu trên thì phạm vào tội khác chớ không cấu thành tội khủng bố. Ví dụ: Tội giết người (Điều 93), cố ý gây thương tích (Điều 104), đe dọa giết người (Điều 103); bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 123); v.v …

– Chủ thể của tội phạm : Chủ thể tội khủng bố là bất kỳ ai có năng lực năng lực trách nhiệm hình sự .

Đây là tội có cấu thành hình thức, chỉ cần cơ quan điều tra chứng minh được người phạm tội có động cơ, có mục tiêu tấn công là một người hay một nhóm người cụ thể nào đó, có mục đích “chống chính quyền nhân dân” hoặc “nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, đã chuẩn bị sẳn công cụ, phương tiện phạm tội, có sự phân công thực hiện tội phạm thì đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm; không cần thiết tội phạm phải được thực hiện xong và có đạt được mục đích mong muốn hay không.

– Hình phạt : BLHS quy định đây là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên có khung hình phạt nghiêm khắc, nhẹ nhất là 2 năm tù, cao nhất là tử hình .

Điều 85. Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học – kỹ thuật, văn hoá, xã hội, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Ta thấy đặc điểm pháp lý cấu thành tội danh này như sau:

– Khách thể của tội phạm (đối tượng bị xâm hại): Là việc xâm phạm các cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước CHXHCN Việt Nam thuộc các lĩnh vực: chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa và xã hội, mà làm suy yếu và chống chính quyền nhân dân .

Các cơ sở nói trên là các kho tàng, xí nghiệp, cùng với máy móc, thiết bị, vật tư về quốc phòng, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công trình văn hóa, nghệ thuật, trụ sở các cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội và mọi tài sản của Nhà nước XHCN, không hạn chế về mức độ giá trị về mặt vật chất hoặc tinh thần.

– Mặt khách quan của tội phạm : Thể hiện ở những hành vi như đốt phá, gây nổ, hoặc mọi thủ đoạn khác làm cho đối tượng bị xâm hại của hành vi phạm tội mất hoàn toàn hoặc một phần giá trị sử dụng.

Tội phạm có cấu thành vật chất, được coi là hoàn thành từ khi có hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, dù lớn hay nhỏ, dù kẻ phạm tội có đạt được mục đích mong muốn hay không. Vì vậy, nếu cơ quan điều tra không chứng minh được thiệt hại xảy ra và không chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại xảy ra thì không cấu thành tội này.

– Về mặt chủ quan , tội phạm được thực hiện do cố ý, nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân.

– Chủ thể của tội phạm : là bất kỳ công dân Việt Nam nào có năng lực năng lực trách nhiệm hình sự , nếu người nước ngoài hoạt động phá hoại thì họ bị xử lý về tội gián điệp.

– Hình phạt: BLHS quy định đ ây là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên có khung hình phạt nghiêm khắc, nhẹ nhất là 5 năm tù, cao nhất là tử hì nh.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 46):

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ Luật (Điều 47):

Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

***

“Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao. Đồng thời, pháp luật hình sự góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.

Vì vậy, việc điều tra, truy tố, xét xử phải triệt để bảo đảm nguyên tắc: “Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật”, không vì nhận thức pháp luật yếu kém hay vì bất cứ một động cơ, mục đích nào khác chi phối mà xét xử không đúng tội danh, lấy “râu ông nọ cắm càm bà kia” hoặc áp dụng hình phạt không đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.

Tạ Phong Tần

Advertisements
Chuyên mục:Khoa học pháp lý
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: