Trang chủ > Sự kiện và Bình luận > PHẢI RÕ RÀNG VÀ TÔN TRỌNG NGƯỜI ĐÓNG THUẾ

PHẢI RÕ RÀNG VÀ TÔN TRỌNG NGƯỜI ĐÓNG THUẾ

Người dân đòi hỏi cơ quan Thuế một sự tôn trọng tư cách công dân, vì vậy họ sẽ rất bất bình nếu Bộ Tài Chính lúc nào cũng chăm chăm nhìn người dân bằng con mắt soi mói lo sợ người ta không chịu nộp thuế nên phải “giật lấy” tại chổ khi tiền chưa kịp qua tay người lao động.

Dự thảo Luật Thuế Thu nhập cá nhân sau nhiều lần sửa đổi đã có những tiến bộ nhất định, tuy nhiên, vẫn còn một số điểm chưa khả thi như sau:

Quy định “mức giảm trừ đối với người phụ thuộc cho một người nộp thuế không quá 10 triệu đồng/tháng” là cứng nhắc và thiếu thực tế:

Khoản 6 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) giải thíchNgười phụ thuộc: là người mà đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ phải nuôi dưỡng, cấp dưỡng theo qui định của pháp luật”. Theo Điều 50 Luật Hôn nhân và Gia đình thì người phải nuôi dưỡng, cấp dưỡng theo quy định pháp luật gồm có: cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng. Như vậy, chỉ tính riêng ở Điều 50 Luật HN-GĐ này thì người phụ thuộc đã là 7 người nếu chỉ có chồng đi làm, vợ nội trợ, mức chi cho người phụ thuộc sẽ là 7 người x 1,6 triệu đồng bằng 11,2 triệu đồng/tháng. Trường hợp cả hai vợ chồng cùng đi làm thì mỗi người phải nuôi 3 người (cha mẹ ruột và 1 đứa con) thì mức cho cho phười phụ thuộc của mỗi lao động là 3 người x 1,6 triệu đồng bằng 4,8 triệu đồng/tháng.

Ngoài ra, Điều 676 Bộ luật Dân sự còn giải thích rõ thêm người phải nuôi dưỡng, cấp dưỡng còn có cha mẹ nuôi, con nuôi; những người tuy luật pháp không bắt buộc phải nuôi dưỡng nhưng theo truyền thống đạo đức dân tộc ta nếu những đối tượng này là người già cả neo đơn hay mồ côi không nơi nương tựa (chỉ có người đóng thuế là người thân duy nhất thì người này vẫn phải nuôi chớ không thể bỏ mặc được) là người thuộc hàng thừa kế thứ hai, thứ ba, gồm: cháu ruột, cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột. Do đó, số lượng người phụ thuộc người lao động không phải chỉ gói gọn trong phạm vi 7 người với mức chi 11,2 triệu đồng/tháng mà còn có thể cao hơn nữa nếu phải nuôi thêm con nuôi, cha mẹ nuôi, chú, bác, cô, dì, cháu, v.v…

Điểm c Khoản 2 Điều 18 Luật Thuế TNCN lại quy định “Tổng mức giảm trừ đối với người phụ thuộc cho một người nộp thuế không quá 10 triệu đồng/tháng” là cứng nhắc và thiếu thực tế, gây khó khăn cho đời sống người lao động nếu người lao động đó phải nuôi nhiều người phụ thuộc như đã dẫn chứng ở phần trên. Theo tôi, cần quy định “mức giảm trừ gia cảnh tính theo thực tế những người phụ thuộc mà người đóng thuế phải nuôi dưỡng”. Dĩ nhiên, việc nuôi dưỡng này phải được sự xác nhận của chính quyền cơ sở chớ không thể nhận xằng là có nuôi dưỡng để trốn thuế.

Quy định còn lập lờ, khó hiểu:

Điểm a Khoản 3 Điều 11 quy định: “Chi phí tiền lương, tiền công, các khoản thù lao và các chi phí khác trả cho người lao động. Chi phí tiền lương, tiền công không bao gồm khoản tiền lương, tiền công của chủ hộ, người đại diện hộ kinh doanh là người nộp thuế”; tức có thể hiểu doanh thu của chủ hộ, người đại diện hộ kinh doanh sau khi trừ các khoản chi phí kể trên thì được coi là thu nhập chịu thuế của họ, nếu vượt ngưỡng 5 triệu/tháng thì phải nộp thuế TNCN. Tuy nhiên, điểm đ (trong cùng Điều luật) lại quy định “chi phí quản lý” là chi phí được khấu trừ. Điều này gây sự khó hiểu, nếu thuê người khác quản lý cơ sở kinh doanh thì tiền thuê này đã được coi là tiền lương, tiền công trả cho người lao động. Còn chủ hộ, người đại diện hộ kinh doanh tự mình quản lý công việc kinh doanh (tình trạng này là phổ biến đối với cơ sở kinh doanh nhỏ, hộ kinh doanh cá thể) thì có được khấu trừ khoản “chi phí quản lý” này không khi điểm a lại không cho chủ hộ, người đại diện hộ kinh doanh được hưởng tiền lương, tiền công từ công việc quản lý cơ sở kinh doanh của mình?

Tại Biểu thuế toàn phần (điểm e Điều 21) cũng quy định phải khấu trừ ngay đầu nguồn “Thu nhập từ thừa kế, quà tặng vượt trên 10 trđ/lần phát sinh thu nhập = 10%”. Như vậy, nếu trong một tháng mà cá nhân đó nhận quà tặng ở mức 7-8 triệu đồng/lần phát sinh nên chưa đến mức khấu trừ thuế (Ví dụ: được tặng điện thoại di động, laptop, máy ảnh kỹ thuật số…), nhưng số lần được tặng lại là 4-5 lần thì có cộng lại để khấu trừ thuế hay là cho qua luôn?

Cơ quan thuế “Nắm dao đằng cán” gây phiền hà, khó khăn cho công dân:

Khoản 1 Điều 22 Luật thuế TNCN lại quy định: “Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo từng lần phát sinh thu nhập đối với những khoản thu nhập sau: a. Thu nhập từ tiền lương, tiền công;”. Điều này quy định cũng rất nhập nhằng. Nếu tiền lương, tiền công được trả mỗi tháng 1 lần mà ở mức phải chịu thuế thì “tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ” cũng là hợp lý. Tuy nhiên, tiền lương, tiền công có thể được trả theo mỗi tuần/lần, nửa tháng/lần tùy theo thỏa thuận giữa người thuê và người làm công. Tiền nhuận bút báo chí cũng là một loại tiền công được trả riêng theo từng bài viết chớ không cộng lại đến cuối tháng trả chung một lần. Ví dụ: Tôi ở Bạc Liêu, được báo Tuổi Trẻ trả nhuận bút trong tháng 9/1006 có 1.350.000đ nhưng chưa chi đã bị đè đầu thu béng 135.000đ thuế thu nhập tại Tp.HCM rồi. Rõ ràng số nhuận bút này chẳng đủ để chịu thuế nhưng bây giờ tôi sẽ đi đòi thoái thu 135.000đ “lỡ bị bắt nộp” đó ở đâu? Báo chí phản ánh tình trạng doanh nghiệp đi nộp thuế (đem tiền của mình đưa cho cơ quan thuế) phải chịu đày ải khủng khiếp như thế nào, huống hồ tôi đi đòi cơ quan thuế trả lại cho tôi số tiền “nhỏ như con kiến” thì chẳng biết đến khi nào mới đòi được?

Vì vậy, không nên quy định chung chung “khấu trừ và nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo từng lần phát sinh thu nhập” mà phải quy định rõ hơn “Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập phải tính mức chiết trừ gia cảnh tối thiểu trước, xem xét thu nhập đã đến ngưỡng chịu thuế theo từng lần phát sinh thu nhập mà có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế vào ngân sách nhà nước. Nếu thu nhập từng lần phát sinh chưa đến mức chịu thuế thì không khấu trừ ngay theo từng lần phát sinh thu nhập mà cộng dồn đến cuối tháng mới đối chiếu, khấu trừ và nộp thuế”, để không gây phiền hà, khó khăn cho tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập lẫn người có thu nhập.

Đóng thuế để xây dựng đất nước vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân, người dân rất tự hào nếu được đóng thuế thu nhập vì nó chứng tỏ công dân ấy có thu nhập cao và đồng tiền đóng thuế lương thiện, chính đáng. Thiết nghĩ, cơ quan thuế chỉ cần quản lý chặt được nguồn thu, gởi giấy báo mức thuế, còn việc nộp thuế hãy để cho người dân tự giác đi nộp, nếu ai chây ỳ không thực hiện đã có chế tài hành chính, hình sự quy định rõ ràng rồi, không phải sợ ai trốn thuế. Người dân đòi hỏi cơ quan Thuế một sự tôn trọng tư cách công dân, vì vậy họ sẽ rất bất bình nếu Bộ Tài Chính lúc nào cũng chăm chăm nhìn người dân bằng con mắt soi mói lo sợ người ta không chịu nộp thuế nên phải “giật lấy” tại chổ khi tiền chưa kịp qua tay người lao động.

Tạ Phong Tần

Advertisements
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: