HÈN

March 27, 2007

Theo Từ điển tiếng Vờ, từ “Hèn” có nghĩa là nhút nhát đến mức đáng khinh. Ví dụ: 1. Chỉ thế mà không dám nói, sao mà hèn thế. 2. Ở hạng tồi kém, bị khinh bỉ: người hèn phận hèn tài hèn sức mọn. “Nhát” là hay sợ sệt, trái với bạo. Ví dụ: Kẻ nhát nát người bạo; Thằng bé nhát lắm, tối không dám ra sân. “Mọn” nghĩa là nhỏ bé lắm. Ví dụ: Lễ mọn lòng thành. 2. Nhỏ, ở trình độ thấp: Tài mọn. “Hạ” là chuyển vị trí từ cao xuống thấp. Ví dụ: 1. Hạ cờ, hạ cây nêu, hạ màn, hạ bệ, hạ thổ. 2. Giảm bớt, giảm thấp hơn: hạ giá hạ huyết áp. 3. Kẻ một đường thẳng góc với đường thứ nhất (từ một địa điểm ngoài một đường thẳng). 4. Đánh chiếm: hạ đồn, hạ thành. 5. Đánh thắng: hạ đo ván đối thủ. 6. Nêu lên cái cần thực hiện: hạ quyết tâm hạ lệnh.

Vì thế, chữ “hèn” luôn đi đôi với chữ “nhát” (hèn nhát), chữ “hạ” (hèn hạ), chữ “mọn” (hèn mọn) để chỉ những con người, hành vi của ai đó không xứng đáng là hạng bình thường. Quyền lực, nhân lực, phương tiện, … nắm trong tay, kẻ nào vi phạm pháp luật cứ “thiết diện vô tư” mà thi hành quân lệnh, sao lại giở thói hạ lưu với người tay không tấc sắt, hành vi này chỉ có thể tóm gọn trong một chữ: HÈN.

Có vị Tiên sinh nọ ở phủ Bờ, dám cả gan phơi bày cái đạo đức xấu xa, ăn thiệt làm dối, tham lam trộm cắp, ỷ thế lộng quyền, giả nhân giả nghĩa… của “gương mặt đen” một số quan chức trong phủ Bờ, nên những quan chức này tìm đủ mọi cách để “khủng bố”, “hạ gục” vị Tiên sinh kia. Nhưng xét cho cùng, vị Tiên sinh kia chẳng làm điều gì vi phạm pháp luật nước Vờ nên chưa có lý do gì để mượn tay pháp luật trừng trị, các “gương mặt đen” bèn giở một thủ đoạn khác là rêu rao nhằm hạ uy tín đối phương, bằng cách nửa úp nửa mở làm như “tình cờ tiết lộ” cho nhiều người biết rằng Tiên sinh kia đã phạm tội tày đình, đang bị “tình báo” của các “gương mặt đen” theo dõi sát sao từng cử chỉ, hành động, đường đi nước bước, v.v…

Thông tin này nó buồn cười vô cùng, ai đời theo dõi người ta mà gặp ai cũng cứ la làng lên: “Tao đang theo dõi thằng đó (con đó)”, “Rừng có mạch, vách có tai”, thử hỏi theo dõi đối phương mà nhiều người biết như thế đối phương sẽ cảnh giác đề phòng, làm sao mà theo dõi được. Có thể thấy chẳng qua các “gương mặt đen” cố ý lợi dụng tính hay buôn chuyện của người phủ Bờ, dùng cái miệng người khác làm cái loa thông tin không công (khỏi cần tốn tiền thuê đăng quảng cáo) để phao tin rêu rao, làm cho người quen, bạn bè, những người thiếu hiểu biết pháp luật hoặc có tư tưởng cầu an sợ hãi mà xa lánh vị Tiên sinh kia thôi.

Lại nghe đồn, phủ Bờ lúc này đang nổi đình nổi đám vụ việc một nhân vật khác được mệnh danh là “Đại ma đầu” khét tiếng, từng vào tù ra khám, liều mạng coi cái chết như không. Các “gương mặt đen” đang tìm cách để vu cho vị Tiên sinh nọ với “Đại ma đầu” kia là cùng một rọ, mặc dù “tên nọ” và “tên kia” chẳng liên quan gì đến nhau. Mục đích của các “gương mặt đen” vu như vậy là nhằm dễ bề mượn tay pháp luật nước Vờ xử lý và tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng, quan trên. Khá khen cho thủ đoạn của các “gương mặt đen” quá cao tay, quá ác độc và quá tàn bạo vậy.

Đại Ngu Tiên sinh bàn rằng:

Theo Từ điển tiếng Vờ, từ “Hèn” có nghĩa là nhút nhát đến mức đáng khinh. Ví dụ: 1. Chỉ thế mà không dám nói, sao mà hèn thế. 2. Ở hạng tồi kém, bị khinh bỉ: người hèn phận hèn tài hèn sức mọn. “Nhát” là hay sợ sệt, trái với bạo. Ví dụ: Kẻ nhát nát người bạo; Thằng bé nhát lắm, tối không dám ra sân. “Mọn” nghĩa là nhỏ bé lắm. Ví dụ: Lễ mọn lòng thành. 2. Nhỏ, ở trình độ thấp: Tài mọn. “Hạ” là chuyển vị trí từ cao xuống thấp. Ví dụ: 1. Hạ cờ, hạ cây nêu, hạ màn, hạ bệ, hạ thổ. 2. Giảm bớt, giảm thấp hơn: hạ giá hạ huyết áp. 3. Kẻ một đường thẳng góc với đường thứ nhất (từ một địa điểm ngoài một đường thẳng). 4. Đánh chiếm: hạ đồn, hạ thành. 5. Đánh thắng: hạ đo ván đối thủ. 6. Nêu lên cái cần thực hiện: hạ quyết tâm hạ lệnh.

Vì thế, chữ “hèn” luôn đi đôi với chữ “nhát” (hèn nhát), chữ “hạ” (hèn hạ), chữ “mọn” (hèn mọn) để chỉ những con người, hành vi của ai đó không xứng đáng là hạng bình thường. Quyền lực, nhân lực, phương tiện, … nắm trong tay, kẻ nào vi phạm pháp luật cứ “thiết diện vô tư” mà thi hành quân lệnh, sao lại giở thói hạ lưu với người tay không tấc sắt, hành vi này chỉ có thể tóm gọn trong một chữ: HÈN.

Tạ Phong Tần

Advertisements
Chuyên mục:Cổ học tinh ma
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: