Trang chủ > Khoa học pháp lý > BÀN VỀ KHÁI NIỆM “BÍ MẬT ĐỜI TƯ”

BÀN VỀ KHÁI NIỆM “BÍ MẬT ĐỜI TƯ”

15:36′ 29/09/2006 (GMT+7)

Theo quan điểm của một số người làm công tác pháp luật, bí mật đời tư có thể được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ bản. Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, các mối quan hệ… gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khác biết.

Theo quan điểm của một số người làm công tác pháp luật, bí mật đời tư có thể được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ bản. Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, các mối quan hệ… gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khác biết.

Hiện, chưa có văn bản pháp luật nào giải thích khái niệm “bí mật đời tư” rõ ràng. Liệu những thông tin được lấy từ phiên toà công khai có được coi là xâm phạm “bí mật đời tư”?

Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa quy định rõ ràng về phạm vi của khái niệm “bí mật đời tư”. Điều 34 Bộ Luật Dân Sự 1995 chỉ ghi nhận ngắn gọn:

“1- Quyền đối với bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2- Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý hoặc thân nhân của người đó đồng ý, nếu người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3- Không ai được tự tiện bóc mở, thu giữ, tiêu huỷ thư tín, điện tín, nghe trộm điện thoại hoặc có hành vi khác nhằm ngăn chặn, cản trở đường liên lạc của người khác.

Chỉ trong những trường hợp được pháp luật quy định và phải có lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân”.

Như vậy, theo Điều luật này, bí mật đời tư được giới hạn trong phạm vi “thư tín, điện tín, điện thoại”, “đường liên lạc”. Điều 38 BLDS 2005 quy định quyền bí mật đời tư trong phạm vi rộng hơn, tức bổ sung thêm “các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân”, còn nội dung khác vẫn giữ nguyên theo tinh thần BLDS 1995.

Hiện nay, cũng chưa có văn bản pháp luật nào giải thích khái niệm “bí mật đời tư” rõ ràng. Khái niệm “bí mật đời tư” là một cụm từ Hán – Việt, có nguồn gốc từ chữ Hán và được Việt hóa.

Do đó, có thể hiểu “bí mật” là những chuyện kín đáo, chuyện muốn che giấu, không có ai biết. Tư có nghĩa là riêng, việc riêng, của riêng. Như vậy, “bí mật đời tư” là chuyện thầm kín của một cá nhân nào đó.

Ảnh: Concurring opinions

Theo quan điểm của một số người làm công tác pháp luật , bí mật đời tư có thể được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ bản. Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, các mối quan hệ… gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khác biết. Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai. “Bí mật đời tư” có thể hiểu là “chuyện trong nhà” của cá nhân nào đó. Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín, v.v…

Theo Thông Tư số 09/2005/TT-BCA ngày 05/09/2005 “Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 38/2005/NĐ-CP ngày 18/03/2005 của Chính phủ quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng”, nơi công cộng là “các khu vực, địa điểm phục vụ chung cho mọi người như vỉa hè, lòng đường, quảng trường, cơ sở kinh tế, văn hóa, nơi sinh hoạt cộng đồng; tại khu vực trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội hoặc tại những nơi công cộng khác”. Nơi công cộng khác có thể hiểu là một địa điểm nào đó được trưng dụng để phục vụ cho nhiều người trong một thời gian nhất định (nơi tổ chức Hội chợ, triển lãm…) hoặc khu thể thao (sân bóng, sân quần vợt, hồ bơi, chợ nổi…).

Như vậy, những gì cá nhân phô diễn ra ở nơi công cộng thì không còn là bí mật đời tư nữa và những cá nhân khác có quyền về nơi công cộng ấy bình đẳng như nhau. Ví dụ: hình ảnh một cá nhân nào đó (chụp tại nhà hay studio) muốn đăng báo, phát hình phải xin phép cá nhân đó. Nhưng nếu cá nhân đó đang tham gia phiên tòa, hình chụp chung nhiều người (bị cáo, nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử, người dự khán…) thì hình ảnh ấy không còn là bí mật đời tư nữa mà là hình ảnh về sinh hoạt cộng đồng, tác giả bức ảnh ấy có quyền sử dụng mà không cần phải xin phép những người có mặt trong ảnh. Tương tự, hôn nhân gia đình là chuyện riêng tư của các cá nhân với nhau, nhưng nếu đã đem những chuyện riêng tư ấy trình bày trước phiên tòa công khai thì những lời trình bày ấy không còn là bí mật đời tư nữa, vì nó đã được chính những người trong cuộc “tự nguyện công khai hóa”.

Cho nên, không có cái “bí mật đời tư” chung chung, mà “bí mật đời tư” phải được cụ thể trong từng trường hợp rõ ràng. Công dân muốn pháp luật bảo vệ quyền về bí mật đời tư thì công dân đó phải có nghĩa vụ chứng minh bí mật đó thuộc về cá nhân người đó và chưa từng được công bố, công khai ở nơi công cộng.

Ví dụ: ông A có con ngoài giá thú nhưng giấu kín, bà B tình cờ nghe lỏm vợ chồng ông A cãi nhau nên biết bèn đi nói với người khác là ông A có con ngoài giá thú. Như vậy, bà B đã xâm phạm vào bí mật đời tư của ông A. Ngược lại, vợ chồng ông A vì chuyện con ngoài giá thú mà phát sinh mâu thuẫn, đưa nhau ra Tòa, Tòa án mở phiên xử ly hôn công khai, tại phiên xử vợ chồng ông A cũng trình bày là A có con ngoài giá thú thì chuyện A có con ngoài giá thú đã được công khai hóa, không còn là bí mật đời tư của vợ chồng A nữa.

Trong một phiên tòa công khai có ít nhất những người sau đây tham dự: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người (không liên quan) dự khán phiên tòa như: thân nhân các bên nguyên-bị; người hiếu kỳ, phóng viên báo, đài… và mỗi người có quyền có suy nghĩ độc lập, riêng tư về diễn biến, nội dung, phán quyết của phiên tòa ấy, có quyền đặt câu hỏi về một vấn đề nào đó để người khác tự trả lời mà không ai có quyền ngăn cản. Còn trả lời câu hỏi như thế nào là tùy thuộc vào nhận thức riêng của từng người, không ai có thể áp đặt câu trả lời cho ai được.

Đại Hội X của Đảng đã đề ra nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện một Nhà nước pháp quyền, trong đó, mỗi công dân đều phải “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, không ai có quyền đứng trên, đứng ngoài pháp luật. Thiết nghĩ, các cơ quan lập pháp nên sớm có hướng dẫn thống nhất về khái niệm “bí mật đời tư” đểkhông ai có thể lợi dụng sự chưa rõ ràng của pháp luật nhằm đạt được mục đích của mình.

Tạ Phong Tần

—————————–

Bài đã đăng Vietnamnet:

http://vietnamnet.vn/bandocviet/2006/09/617128/

Advertisements
Chuyên mục:Khoa học pháp lý
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: