Trang chủ > Khoa học pháp lý > TÍNH TÙY TIỆN CỦA KHOẢN 2 ĐIỀU 46 BỘ LUẬT HÌNH SỰ

TÍNH TÙY TIỆN CỦA KHOẢN 2 ĐIỀU 46 BỘ LUẬT HÌNH SỰ

August 10, 2007

“Một miếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp”, có công đã được tưởng thưởng, danh vị, bổng lộc chính người đó đã hưởng rồi, con cháu cũng được thêm phần “hương khói” thơm râu. Ví dụ gần nhất chính là vụ xét xử Bùi Tiến Dũng, nhờ cái lý lịch “con em một gia đình tướng lĩnh” mà ngoi lên đến chức vụ “thét ra lửa” Giám đốc PMU18, khi phạm tội Dũng Tổng cũng nhờ cái bia “con em một gia đình tướng lĩnh”, “bố có huy chương” để hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nếu anh chị em Dũng Tổng lại phạm tội thì cái bia “bố có huy chương” tiếp tục đem ra xài vẫn hiệu nghiệm như thường.

Rõ ràng, Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP là sự lập pháp tùy tiện của ngành Tòa án, đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa các công dân với nhau và hoàn toàn vi Hiến.

Điều 46 BLHS quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nghĩa là khi xét xử, nếu bị cáo có tình tiết giảm nhẹ thì được xử mức án nhẹ hơn mức bình thường, nếu có cùng lúc nhiều tình tình tiết giảm nhẹ có thể được xử mức án dưới khung hình phạt bị truy tố.

Tại khoản 1 Điều 46 có tất cả 18 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, gồm:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b)Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

Trong phạm vi bài viết này không bàn đến các tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 vì những tình tiết này được quy định rõ ràng tại BLHS, một văn bản luật hợp Hiến được cơ quan lập pháp chính thống là Quốc Hội thông qua; mà chỉ đề cập đến quy định tại khoản 2 Điều 46: “Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án ” là một quy định rất chung chung, mập mờ, có tính chất tùy tiện và tạo kẽ hở cho tiêu cực phát sinh .

Điều 127 Hiến pháp (2001) quy định:

Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt.

Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật ”.

Như vậy, Hiến pháp đã khẳng định rõ ràng Tòa án là một bộ phận của ngành Tư pháp (điều tra, công tố, xét xử), chỉ làm duy nhất một nhiệm vụ là xét xử. Nay khoản 2 Điều 46 BLHS quy định ngoài những tình tiết giảm nhẹ đã quy định tại khoản 1 Điều 46 thì “Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ” tức đã giao cho Tòa án thêm quyền lập pháp là vi Hiến . Khoản 2 Điều 46 BLHS hoàn toàn không hề đặt ra tiêu chuẩn nào cho cái gọi là “tình tiết khác” có nghĩa là Tòa án thích cho tình tiết nào là tình tiết giảm nhẹ tùy theo sự hứng thú, phẫn nộ, vui buồn, tức giận… của Tòa án, muốn thêm bao nhiêu tình tiết giảm nhẹ thì thêm, không hề có giới hạn. Đây quả là “cánh cửa mở rộng” cho sự tùy nghi.

Quả thật, ngành Tòa án đã lợi dụng “cánh cửa mở rộng” này để quy định thêm hàng loạt cái gọi là tình tiết giảm nhẹ mà nhìn vào có thể hiểu đây chính là đặc quyền đặc lợi chỉ dành riêng cho một nhóm xã hội cấp cao .

Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao (TANDTC) giải thích:

“ Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án”.

Theo các văn bản hướng dẫn trước đây của Toà án nhân dân tối cao và của Toà án nhân dân tối cao với các cơ quan hữu quan khác cũng như thực tiễn xét xử trong thời gian qua, thì các tình tiết sau đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác:

- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước;

- Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em ruột là liệt sỹ;

- Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên;

- Người bị hại cũng có lỗi;

- Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;

- Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;

- Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;

- Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu.

Ngoài ra, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án”.

Nếu như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 46 là những tình tiết có được do hành vi tự thân bị cáo phấn đấu theo hướng tích cực đạt được chứng tỏ trách nhiệm của bị cáo đối với cộng đồng thì những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán lại là những tình tiết từ trên trời rơi xuống mà bị cáo đương nhiên được hưởng, không cần phải phấn đấu gì cả, đó là được “ăn theo” thành tích của bà con giòng họ (“Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột”; “vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em ruột”). Và diện được Tòa án công nhận là “ô dù”, “bia đỡ đạn” cũng được mở rộng tối đa (“người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước”, “liệt sỹ”). Nếu so với khoản 1 Điều 46 chỉ có 18 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì riêng 2 gạch đầu dòng của Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP đã có đến 23 “tấm bia đỡ đạn” được giương ra cho nhóm “vương tôn công tử” COCC rồi .

Vì “bia” được đưa ra nhiều quá mà không nhắc đến những đối tượng khác thì hơi kỳ nên Tòa án phải thêm các gạch đầu dòng từ gạch thứ 4 đến gạch thứ 6 là:

- Người bị hại cũng có lỗi ; Thực chất, tình tiết này đã được quy định tại khoản 1 Điều 46 rồi, không cần lặp lại ( điểm c, điểm đ ).

- Thiệt hại do lỗi của người thứ ba ; tình tiết này cũng đã được quy định tại khoản 1 Điều 46 rồi, không cần lặp lại ( điểm đ, điểm i ).

- Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo ; thực tế các bị cáo bị tạm giam trong khi chờ xét xử thì việc khắc phục thiệt hại đều do gia đình bị cáo đứng ra thực hiện, bị cáo đang ở trong trại giam làm sao tự mình khắc phục thiệt hại, nên giữa việc bị cáo tự khắc phục thiệt hại và gia đình bị cáo khắc phục thiệt hại không có gì khác nhau, điều này cũng đã được quy định tại khoản 1 Điều 46 ( điểm b ).

- Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu . Tình tiết này cũng có sự lặp lại giống như đã phân tích ở trên, thực chất đây là diễn đạt lại điểm d khoản 1 Điều 46 mà thôi.

Như vậy, khoản 2 Điều 46 BLHS để “mở” cho ngành Tòa án quy định thêm một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ngoài những tình tiết đã quy định ở khoản 1 thì Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã quy định thêm “ô dù” cho nhóm COCC được hưởng ưu tiên từ người thân của mình là chủ yếu .

Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân Dân Tối Cao đã mở đến tột đỉnh “cánh cửa vốn đã mở rộng” bằng cách quy định thêm “Ngoài ra, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án”. Nghĩa là ngoài những tình tiết đã nêu trong khoản 1 Điều 46 và Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP, khi xét xử, cấp Tòa tỉnh, Tòa Thành phố, Tòa huyện tùy ý muốn xem thêm tình tiết nào là giảm nhẹ tùy lòng “hảo tâm” của Quý Tòa .

Quả là khuôn vàng thước ngọc pháp luật đã bị biến thành sự tùy tiện không giới hạn. Không biết trong thời gian qua Tòa án các cấp khi xét xử bị cáo đã “xem” như thế nào vì đâu thấy có văn bản quy định công khai.

Điều 52 Hiến pháp (2001) quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Điều 67 Hiến pháp (2001) quy định: “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định. Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc”.

“Một miếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp”, có công đã được tưởng thưởng, danh vị, bổng lộc chính người đó đã hưởng rồi, con cháu cũng được thêm phần “hương khói” thơm râu. Ví dụ gần nhất chính là vụ xét xử Bùi Tiến Dũng, nhờ cái lý lịch “con em một gia đình tướng lĩnh” mà ngoi lên đến chức vụ “thét ra lửa” Giám đốc PMU18, khi phạm tội Dũng Tổng cũng nhờ cái bia “con em một gia đình tướng lĩnh”, “bố có huy chương” để hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nếu anh chị em Dũng Tổng lại phạm tội thì cái bia “bố có huy chương” tiếp tục đem ra xài vẫn hiệu nghiệm như thường.

Rõ ràng, Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP là sự lập pháp tùy tiện của ngành Tòa án, đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa các công dân với nhau và hoàn toàn vi Hiến .

Tạ Phong Tần

About these ads
Categories: Khoa học pháp lý
  1. 05/10/2011 lúc 10:55:sáng | #1

    quá đúng,quá hay.nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTPlà mâu thuẫn với qui định của hiến pháp đó là “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.nghi quyết này tạo kẽ hở cho bọn chạy án mở đường cho thẩm phán tha hồ tuỳ tiện xét xử

  2. như
    17/05/2012 lúc 10:48:sáng | #2

    Theo tôi cái gì cũng mang tính hai mặt, đồng thời việc nhìn nhận một vấn đề còn tuỳ thuộc vào quan điểm cá nhân. nếu nói quy định tại k2, d46 là tuỳ tiện đó la mặt trái, nhưng nếu nhìn theo phương diện đó là quy định mang tính nhân đạo nhân văn trong pháp luật hình sự thì không vấn đề gì cả, quy định này hoàn toàn ổn. vì các nhà lập pháp không thể nào dự liệu hết các trường hợp có thể xảy ra trên thực tế nên mới có những quy định mang tính mở thui. việc áp dụng luật mới là vấn đề và vấn đề thực sự đáng bàn là nhân phẩm, đạo đức nghề nghiệp của ng ap dụng. hjhj, đó là quan điểm các nhân tui.có ai ủng hộ ko hj.

  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: